SỐ LƯỢT TRUY CẬP

3
8
6
5
9
3
8
Lịch sử ngành Tài chính Thứ Bảy, 11/09/2010, 07:35

Giai đoạn 1986 - 1990

 

 
Về thu ngân sách Nhà nước
Để đảm bảo nguồn thu của ngân sách Nhà nước, các chế độ thu quốc doanh, các pháp lệnh về thuế công thương nghiệp, thuế nông nghiệp được bổ sung sửa đổi, hệ thống thu ngân sách được cải cách, các bộ luật thuế áp dụng thống nhất cho các thành phần kinh tế được xây dựng và hoàn thiện từng bước, Luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam cũng được ban hành để thu hút các nước bỏ vốn đầu tư vào nước ta.
Trong khu vực kinh tế quốc doanh, chính sách động viên tài chính không ngừng được hoàn thiện đi đôi với chế độ quản lý xí nghiệp từng bước được chấn chỉnh.
Về chính sách động viên, từ 1/1/1986, chế độ thu quốc doanh áp dụng trong cả nước không phụ thuộc vào việc thực hiện giá thành sản xuất, đòi hỏi xí nghiệp phải rà soát từng yếu tố giá thành, tiết giảm các khoản chi bất hợp lý để doanh thu bù đắp được chi phí sản xuất và có tích luỹ. Đối tượng thu quốc doanh được mở rộng thêm đối với các ngành kinh doanh ăn uống, khách sạn, dịch vụ may đo, sửa chữa... Mức thu quốc doanh là tỷ lệ phần trăm (%) trên giá bán buôn công nghiệp và cao thấp khác nhau tuỳ theo sự phân biệt ngành nghề. Nếu thu quốc doanh rồi mà lợi nhuận của xí nghiệp lớn hơn lợi nhuận định mức, thì xí nghiệp phải nộp thêm mức thu quốc doanh bổ sung. Trường hợp ngược lại, xí nghiệp được miễn giảm, mức thu bổ sung hoặc mức miễn giảm do tài chính các cấp xét duyệt (tuỳ theo mức phân cấp).
Năm 1988, chế độ thu quốc doanh được cải tiến thêm một bước. Mức thu quốc doanh là tỷ lệ phần trăm (%) trên doanh thu thực hiện, không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của xí nghiệp. Mức thu thể hiện chính sách tích luỹ trên từng mặt hàng, từng hoạt động kinh doanh, góp phần hướng dẫn tiêu dùng, có ưu tiên tư liệu sản xuất với mức thu thấp hơn tư liệu tiêu dùng, có chính sách miễn giảm đối với các mặt hàng hoặc hoạt động kinh doanh thuộc diện chính sách xã hội của các xí nghiệp quốc doanh, xí nghiệp thương binh, các bệnh viện, trường học,... có chính sách miễn giảm đối với các đơn vị sản xuất gặp khó khăn khách quan.
Lợi nhuận thực hiện của xí nghiệp hình thành từ doanh thu tiêu thụ sau khi bù đắp chi phí sản xuất và nộp thu quốc doanh, được để lại cho đơn vị từ 40% đến 60% tuỳ từng loại hình xí nghiệp, còn lại bao nhiêu phải nộp hết vào ngân sách.
Những bổ sung, sửa đổi chế độ thu quốc doanh và trích nộp lợi nhuận trên đây là bước chuyển tiếp dẫn đến sự ra đời các luật thuế chung, có hiệu lực thi hành từ 1/10/1990.
Kết quả thực hiện các chính sách động viên trên đã làm cho nguồn thu ngân sách Nhà nước không ngừng tăng lên. Thu từ khu vực kinh tế quốc doanh trong giai đoạn 1986 - 1990 bằng 27,05 lần so với giai đoạn 1981 - 1985 (trong đó các loại thuế bằng 27,0 lần, khấu hao cơ bản bằng 28,6 lần, thu sự nghiệp bằng 26,4 lần). Cơ cấu các khoản thu từ khu vực quốc doanh giữ nguyên như giai đoạn 1981 - 1985 (trong đó tích luỹ tiền tệ, thuế các loại chiếm tỷ trọng 90,7%, khấu hao cơ bản và thu khác của xí nghiệp chiếm 7,7%, thu sự nghiệp 1,6%).
Trong khu vực tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp dịch vụ, pháp lệnh thuế công thương nghiệp đã được bổ sung nhiều lần. Thực hiện các sắc thuế được bổ sung sửa đổi trong giai đoạn 1986 - 1990 đạt kết quả khá, số thuế công thương nghiệp tăng nhanh, năm sau lớn hơn năm trước, 5 năm 1986 - 1990 số thuế thu được bằng 27,25 lần giai đoạn 1981 - 1985. Mặc dù vậy số thu trên chưa tương xứng với mức độ phát triển của hoạt động kinh doanh, đặc biệt trong lĩnh vực thương nghiệp, dịch vụ... Nguyên nhân có nhiều, trong đó về mặt chính sách thuế công thương nghiệp ban hành đã lâu tuy đã sửa đổi bổ sung nhiều lần, nhưng vẫn mang tính chất chắp vá, nhiều quy định trong chính sách chưa bao quát được hết các nguồn thu và đối tượng thu nặng về động viên bằng thuế gián thu hơn thuế trực thu, thậm chí có phần gây ra thu chồng chéo.
Trong khu vực nông nghiệp, trong năm 1988, Pháp lệnh thuế nông nghiệp đã được bổ sung sửa đổi một bước quan trọng. Các nông trường quốc doanh, trạm, trại... của Nhà nước cũng là đối tượng nộp thuế như hợp tác xã và hộ cá thể. Đất ở của các hộ nông dân nếu vượt mức quy định của Luật đất đai phải nộp thuế. Đất trồng cây công nghiệp ngắn ngày chịu thuế suất 10% và cây dược liệu đặc biệt 20% sản lượng hàng năm. Sửa lại biểu thuế đất vườn và cây lâu năm để bảo đảm mối tương quan giữa cây ngắn ngày với cây lâu năm và sát với hiệu quả kinh tế của cây lâu năm. Bãi bỏ phụ thu hộ cá thể để được thực hiện bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.
Với pháp lệnh thuế nông nghiệp đã được sửa đổi trong năm 1988, với giá thóc tính thuế được các cơ quan có thẩm quyền ở địa phương quy định sát với giá thị trường vào thời điểm thu thuế góp phần tăng thu cho ngân sách Nhà nước, số thuế nông nghiệp nộp vào ngân sách trong giai đoạn 1986 - 1990 bằng 43,63 lần so với giai đoạn 1981 - 1985.
Thực hiện Di chúc của Hồ Chủ tịch, việc miễn giảm thuế nông nghiệp được rải ra trong 2 năm 1990 và 1991. Số hiện vật quy thóc trong 2 năm này chỉ bằng 51,3% và 56,4% số thuế nông nghiệp thu vào ngân sách Nhà nước bình quân hàng năm.
Ngoài thuế, trong 5 năm 1986 - 1990, ngân sách còn tận thu các khoản khác (như thu hợp tác lao động với nước ngoài, xổ số, phí và lệ phí...) với khối lượng bằng 67,4 lần số thu tương ứng trong 5 năm 1981 - 1985.
Kết quả thu thuế và các khoản ngoài thuế nói trên đã làm cho nguồn thu trong nước của ngân sách trong giai đoạn 1981 - 1985 tăng nhanh. Song cần lưu ý là trong những năm 1986 - 1990, với các luật thuế mới ban hành, có nhiều thành phần kinh tế cùng nộp chung theo một sắc thuế vào ngân sách Nhà nước. Trong đó thu từ khu vực kinh tế quốc doanh chiếm tỷ trọng 64,2%, thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chiếm 19,6%, các khoản thu khác chiếm 16,2% số thu trong nước. Như vậy thu từ khu vực kinh tế quốc doanh vẫn là nguồn thu quan trọng nhất của ngân sách Nhà nước.
Bên cạnh nguồn thu trong nước, nguồn thu từ nước ngoài của ngân sách trong giai đoạn 1986 - 1990 vẫn chiếm vị trí quan trọng, bao gồm 2 nguồn: viện trợ và vay nợ. Thu viện trợ chiếm tỷ trọng 9,2% của thu ngoài nước, thu vay nợ chiếm tỷ trọng 90,8% của thu ngoài nước, chủ yếu là nguồn nhập siêu. Tuy nhiên trong những năm 1986 - 1990, do cán cân thanh toán ngoại thương phải thu hẹp để giải quyết khó khăn của 2 phía, nên nguồn thu nhập siêu bằng đồng Rúp giảm. Ngoài ra, do chống bao cấp về giá và vốn, các đơn vị sản xuất kinh doanh của ta phải hạn chế nhập khẩu và tích cực huy động hàng tồn kho trong nước ra sử dụng, nên cân đối vật tư chủ yếu cho sản xuất bớt gay gắt... Từ đặc điểm đó, thu ngoài nước trong 5 năm 1986 - 1990 chỉ bằng 28,81 lần so với giai đoạn 1981 - 1985, chủ yếu do thay đổi tỷ giá so với đồng Rúp.
Tình hình trên đã làm cho cơ cấu thu ngoài nước so tổng thu ngân sách tiếp tục giảm. Trong giai đoạn 1986 - 1990 thu trong nước chiếm tỷ trọng 78,7%, thu ngoài nước chỉ còn lại 21,3% so với các tỷ lệ tương ứng trong giai đoạn 1981 - 1985 là 77,5% và 22,5%.
Nhìn chung tỷ lệ động viên vào ngân sách Nhà nước của giai đoạn 1986 - 1990 mới đạt 20,2% so với thu nhập quốc dân sản xuất là quá thấp, chưa năm nào đạt được mục tiêu của Quốc hội đề ra. Nguyên nhân chính có phần do nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển hướng nên nhịp độ tăng trưởng có giảm sút. Khi xây dựng kế hoạch kinh tế - xã hội 5 năm 1986 - 1990, dự kiến tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân tăng bình quân 6 - 7% hàng năm, nhưng thực tế tổng sản phẩm xã hội chỉ tăng 4,5%, thu nhập quốc dân chỉ tăng 3,3%. Quan trọng hơn là chính sách động viên tài chính còn chưa hợp lý và khâu tổ chức, quản lý thu nộp cho ngân sách vẫn còn yếu.
Trong khu vực kinh tế quốc doanh, số tích luỹ về tài chính và kết quả nộp vào ngân sách vẫn là thấp chưa tương xứng với tiềm năng kinh tế và sự đầu tư về tài sản, tiền vốn của Nhà nước: một đồng vốn tính bình quân chỉ làm ra được 0,08 đồng tích luỹ và 0,04 đồng nộp ngân sách. Việc quản lý chi tiêu của nhiều xí nghiệp còn lãng phí, hạch toán kế toán lỏng lẻo, chấp hành kỷ luật thu nộp chưa nghiêm. Kết quả kiểm kê 0 giờ ngày 1/1/1990 cho thấy trong tổng số 12.000 xí nghiệp quốc doanh có 4.584 đơn vị làm ăn thua lỗ, có nguy cơ phải giải thể (tài liệu của Ban chỉ đạo kiểm kê trung ương).
Trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, việc chỉ đạo thu thuế của ngành tài chính chưa năng động, việc hướng dẫn đôn đốc thu nộp chưa sát sao, sự quan tâm của một số cấp uỷ và chính quyền địa phương chưa đầy đủ: trong khu vực nông nghiệp vẫn có hiện tượng một số huyện, xã xâm tiêu tiền thuế, trong khu vực tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp dịch vụ, vẫn còn hiện tượng một số quận, phường vận dụng sai chính sách, thậm chí còn dặt ra một số khoản lệ phí thay cho thu thuế để chi tiêu ngoài ngân sách.
 
Chi ngân sách Nhà nước
Nhằm phục vụ các mục tiêu kinh tế - xã hội của cả nước, trong 5 năm 1986 - 1990, ngân sách đã chi cho tích luỹ với khối lượng bằng 27,61 lần và chi cho tiêu dùng bằng 32,63 lần so với 5 năm 1981 - 1985. Cơ cấu chi ngân sách tiếp tục biến động: chi tích luỹ từ chỗ chiếm tỷ trọng 31,2% trong giai đoạn 1981 - 1985 giảm xuống 29,6% trong giai đoạn 1986-1990, kéo theo tỷ trọng chi tiêu dùng tăng tương ứng từ 68,8% lên 70,4%. Trong chi tích luỹ đã phân phối 78,6% cho vốn XDCB, 21,4% cho vốn lưu động và vốn dự trữ Nhà nước.
Vốn XDCB vẫn là khoản chi quan trọng: chiếm tỷ trọng 23,3% tổng số chi ngân sách Nhà nước và tăng 24,0 lần so với giai đoạn 1981 - 1985. Đặc biệt trong giai đoạn 1986 - 1990, ngoài nguồn vốn đầu tư của ngân sách, còn có nguồn vốn tự có của xí nghiệp, vốn khấu hao cơ bản để lại, vốn hợp tác, vốn tự vay tự trả của các ngành, các địa phương, các cơ sở, vốn tín dụng của ngân hàng đầu tư và phát triển. Cứ 1 đồng vốn XDCB của ngân sách thì có 0,22 đồng vốn huy động khác. Ngoài ra trong 3 năm 1988 - 1990 đã có nhiều dự án hợp tác đầu tư với nước ngoài được triển khai thực hiện trị giá trên 300 triệu đô la so với tổng trị giá các dự án là 1.470 triệu đô la. (Trong số các dự án được triển khai, ngành dầu khí chiếm tỷ trọng 58,0%, ngành du lịch 26,1%, ngành công, nông, lâm nghiệp 8,7%, ngành giao thông bưu điện và các ngành khác 7,2%).
Trong cơ cấu vốn đầu tư XDCB của ngân sách Nhà nước thì 60% được dành cho việc phục vụ 3 chương trình kinh tế lớn (trong đó 1/2 dành cho chương trình lương thực - thực phẩm, 1/2 dành cho các chương trình hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu). Còn lại 40% được bố trí cho các công trình giao thông vận tải, y tế, giáo dục, văn hoá và các cơ sở hạ tầng.
Kết quả đầu tư xây dựng cơ bản trong giai đoạn 1986 - 1990 đã góp phần đáng kể vào việc ổn định tình hình kinh tế- xã hội, khắc phục một bước những mất cân đối trong nền kinh tế quốc dân. Bình quân hàng năm tổng sản phẩm xã hội tăng 4,5%, thu nhập quốc dân tăng 3,3%, giá trị tổng sản lượng nông nghiệp tăng 3,6%, tổng giá trị hàng xuất khẩu tăng 2,7%... Đặc biệt là đã làm cho nguồn thu ngân sách Nhà nước động viên từ thu nhập quốc dân hàng năm tăng lên 1986: 62,9 tỷ đồng, 1987: 260 tỷ, 1988: 1188,9 tỷ, 1989: 2633 tỷ, 1990: 3692 tỷ (theo giá hiện hành).
Tuy nhiên, trong cơ cấu vốn đầu tư, phần xây lắp chiếm hơn 70%. Phần còn lại dành để mua sắm, đầu tư thiết bị, máy móc, tạo ra sản phẩm không được bao nhiêu. Trên thực tế bố trí cơ cấu vốn như vậy là không hợp lý. Ngoài ra việc quản lý điều hành hoạt động đầu tư XDCB cũng còn nhiều thiếu sót.
Vốn lưu động và vốn dự trữ Nhà nước trong 5 năm 1986 - 1990 bằng 61,19 lần giai đoạn 1981 - 1985 với nội dung cấp vốn lưu động cho những xí nghiệp quốc doanh mới bước vào hoạt động và tăng cường lực lượng dự trữ của Nhà nước. Đặc biệt trong những thời điểm cần thiết của năm 1989, khi giá lương thực xuống thấp, cùng với chủ trương đề ra giá mua tối thiểu để thúc đẩy thu mua và xuất khẩu lương thực, Nhà nước đã chỉ đạo ngành tài chính cấp vốn ngân sách để tăng hàng chục tỷ đồng vốn lưu động cho ngành lương thực và tăng hàng chục vạn tấn dự trữ Chính phủ nhằm hỗ trợ cho nông dân có điều kiện tái sản xuất thuận lợi.
Chi về tiêu dùng trong năm năm 1986 - 1990 đã bố trí kinh phí phục vụ tốt hơn các chính sách xã hội và tăng cường khả năng quốc phòng, an ninh của đất nước. Công tác quản lý kinh phí được cải tiến, vừa chú ý tiết kiệm, vừa đề cao trách nhiệm tự tìm nguồn để chi, không dựa tất cả vào ngân sách. Theo hướng đó, chi tiêu dùng được phân phối như sau:
-Chi quản lý hành chính chiếm tỷ trọng 9,3%. Nhà nước đã sắp xếp lại tổ chức bộ máy, giảm nhẹ biên chế, dự trù riêng kinh phí thực hiện sắp xếp lại lao động khu vực phi sản xuất. Nhà nước còn cho phép các cơ quan hành chính và các đoàn thể thành lập các tổ chức kinh tế hoạt động theo luật pháp, tự trang trải và có tích luỹ góp phần cải thiện đời sống và giải quyết việc làm cho số cán bộ nhân viên dôi ra, song tiến độ sắp xếp tổ chức rất chậm, biên chế chưa giảm được bao nhiêu. Chi hội nghị, tiếp tân, liên hoan, tặng phẩm, quà biếu... vẫn còn lãng phí lớn. Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng về triệt để tiết kiệm chưa được các ngành, các cấp chấp hành nghiêm chỉnh.
-Chi về sự nghiệp chiếm tỷ trọng 35,2%. Bên cạnh các khoản chi hoạt động sự nghiệp thường xuyên, ngân sách Nhà nước còn dành hàng chục tỷ đồng để giải quyết các mục tiêu cấp bách nhất như: giáo dục miền núi, xoá mù chữ, phòng chống bệnh sốt rét, bệnh bướu cổ, bù lỗ chiếu phim vùng cao và dự trữ một số mặt hàng thiết yếu về thuốc men lương thực cho miền núi. Công tác quản lý kinh phí sự nghiệp được cải tiến theo hướng thúc đẩy chuyển sang hạch toán kinh tế. Trong ngành giáo dục, mô hình trường bán công và dân lập được mở rộng. Trong ngành y tế, thực hiện từng bước việc đóng góp bảo hiểm y tế. Chi sự nghiệp xã hội cũng có nhiều cải tiến: quỹ bảo hiểm xã hội được giao 1 phần quyền quản lý cho công đoàn cơ sở sử dụng có hiệu quả hơn như hạn chế sinh con thứ 3, tăng cường bảo hiểm an toàn lao động. Nhà nước còn thực hiện phương thức uỷ quyền cho ngành tài chính các tỉnh, thành phố cấp phát cho cơ quan Lao động - Thương binh và xã hội ở địa phương để trả lương hưu và trợ cấp cho cán bộ công nhân viên về hưu và các đối tượng chính sách trên địa bàn.
-Chi bù lỗ, bù giá chiếm tỷ trọng 10,4%. Thực hiện chủ trương hạn chế, tiến tới xoá bỏ các khoản chi bù lỗ, bù giá, từ quý IV/1987 đã chuyển cơ chế bù giá theo ngành hàng sang bù giá 4 mặt hàng định lượng bằng tiền cho cán bộ công nhân viên chức và lực lượng vũ trang để thúc đẩy các ngành lương thực và thương nghiệp chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh. Từ quý IV/1988 đã có cơ chế bù chênh lệch ngoại thương, lấy lãi nhập bù lỗ xuất, đưa vật tư bán theo giá kinh doanh để trợ giá xuất khẩu. Từ năm 1989 trở đi, ngân sách Nhà nước không bù lỗ lương thực, bù chênh lệch ngoại thương và bù lỗ sản xuất kinh doanh, trừ một số mặt hàng trợ giá theo chính sách.
-Chi quốc phòng, an ninh, chi viện trợ C, K, chi trả nợ... chiếm tỷ trọng 45,1%, trong đó chi quốc phòng đã tính đến việc giảm quân số thường trực, đồng thời đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả quân đội làm kinh tế để bù đắp một phần nhu cầu chi. Riêng chi trả nợ nước ngoài có khối lượng bằng 230 lần so với giai đoạn 1981-1985, phản ánh nhu cầu phải trả một phần các khoản nợ gốc và lãi nợ đến hạn, quá hạn dồn dập tăng lên mà ta không còn khả năng hoãn nợ. Riêng năm 1989 là năm được mùa lớn, ta còn có cố gắng mua 16 vạn tấn gạo xuất trả nợ trước hạn cho một số nước để tạo điều kiện mở rộng kinh tế đối ngoại. Mặc dù vậy, các khoản nợ nước ngoài đến hạn và quá hạn vẫn còn lớn, đến năm 1990 mức trả nợ chi bằng 11,5% số nợ đến hạn và quá hạn phải trả.
 
Công tác lập và chấp hành ngân sách Nhà nước
Trong giai đoạn 1986 - 1990, khi chính sách quản lý kinh tế chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường, cơ chế quản lý ngân sách Nhà nước cũng dần dần tự đổi mới.
Khâu lập kế hoạch ngân sách, chỉ tiêu pháp lệnh do Hội đồng Bộ trưởng quyết định được giảm bớt. Chỉ tiêu hướng dẫn thực hiện tổng mức thu chi ngân sách được phân cấp cho Bộ Tài chính nhiều hơn. Khi nguồn thu ngoài nước giảm mạnh, nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước được kế hoạch hoá trên cơ sở động viên và khai thác triệt để mọi nguồn thu từ sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế một cách bình đẳng theo các sắc thuế đã được cải cách. Năm 1990, khi được thành lập hệ thống dọc, ngành thuế đã chủ động phối hợp với các ngành liên quan như hải quan, giao thông, kiểm lâm... để tổng hợp toàn bộ kế hoạch thu ngân sách theo chức năng nhiệm vụ được xác định. Kế hoạch chi ngân sách cũng được bố trí theo hướng giảm dần gánh nặng bao cấp của Nhà nước. Trong lĩnh vực XDCB ngân sách Nhà nước chỉ đầu tư vốn xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình then chốt của nền kinh tế quốc dân. Các xí nghiệp quốc doanh có nhu cầu đầu tư phải tự tìm nguồn vốn trong nước và ngoài nước theo hướng dẫn của Nhà nước. Trong lĩnh vực chi tiêu dùng xã hội, kinh phí ngân sách được tính toán theo chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước và định mức được duyệt, kiên quyết tinh giảm biên chế, mở rộng hình thức “Nhà nước và nhân dân cùng làm” trong các hoạt động sự nghiệp giáo dục, y tế và chính sách xã hội.
Quá trình chấp hành ngân sách Nhà nước, UBND được giao chỉ đạo các đơn vị kinh tế trên địa bàn, kể cả đơn vị do trung ương quản lý, thực hiện đầy đủ chế độ lập và chấp hành ngân sách, chế độ báo cáo quyết toán, chế độ hạch toán và nhất là đôn đốc hoàn thành nghĩa vụ thu nộp ngân sách. Việc hợp nhất bộ máy và biên chế 3 ngành thu quốc doanh, thuế công thương nghiệp và thuế nông nghiệp đã góp phần chấn chỉnh khâu tổ chức, quản lý thu nộp ngân sách từ trung ương đến cấp tỉnh và cấp huyện. Một số nơi còn thí điểm thành lập đội thuế xã (phường) một mặt chịu sự chỉ đạo của cơ quan thuế cấp trên về chính sách chế độ thu, mặt khác chịu sự lãnh đạo trực tiếp của UBND xã (phường) về tổ chức quản lý thu nộp.
Việc cân đối ngân sách được đổi mới theo hướng thu trong nước của ngân sách phải cố gắng đáp ứng các khoản chi của ngân sách. Sau khi thực hiện các biện pháp tăng thu và sắp xếp lại các khoản chi cho hợp lý và tiết kiệm mà ngân sách Nhà nước vẫn còn bội chi giải quyết số thâm hụt ngân sách bằng cách vay trong nước và vay nước ngoài, hạn chế đến mức thấp nhất việc phát hành tiền để chi tiêu ngân sách.
Sau nhiều lần bổ sung sửa đổi, năm 1988 mục lục ngân sách đã được cải tiến. Thu chi ngân sách được phân tích thống nhất đến loại, khoản, hạng theo phân ngành kinh tế quốc dân cấp 1, cấp 2. Mục lục ngân sách mới thể hiện chương để chỉ đối tượng thu, chi có mã số chung cho hệ thống chính quyền các cấp trung ương, tỉnh, huyện, xã... và các thành phần kinh tế khác. Mục của phần thu phân tích theo sắc thuế và các biện pháp thu tài chính khác. Mục của phần chi được phân tích theo tính chất của vốn và kinh phí (vốn XCDB, vốn lưu động, lương, phụ cấp...) để phục vụ cho công tác quản lý.
Tuy nhiên công tác quản lý ngân sách Nhà nước vẫn còn nhiều mặt tồn tại. Khâu lập kế hoạch, hệ thống chính sách chế độ thu còn đang trong quá trình hoàn thiện, nên một số năm còn tính toán theo hướng dự kiến sẽ được bổ sung, sửa đổi, chưa bảo đảm tính tích cực và vững chắc của mức thu ngân sách. Về chi, các định mức, tiêu chuẩn không ổn dịnh, có cái không phù hợp với thực tế. Nhiều khoản chi còn chưa có định mức hoặc định mức quá lạc hậu, dẫn đến tình trạng vận dụng mỗi nơi một khác, không theo chế độ chung của Nhà nước.
Khâu chấp hành ngân sách, hệ thống thu chưa tập trung vào ngành thuế. Rất nhiều cơ quan, địa phương cũng làm nhiệm vụ thu cho ngân sách như Tổng cục hải quan thu thuế hải quan, các Bộ, các địa phương đều có nguồn thu riêng từ phí và lệ phí. Riêng hệ thống thu thuế là quan trọng nhất, nhưng tổ chức bộ máy thuế chưa được củng cố hoàn chỉnh, do đó hiệu quả chưa cao.
Tổ chức quản lý chi ngân sách Nhà nước cũng còn nhiều sơ hở. Cơ chế chuyển vốn XDCB thông qua Ngân hàng đầu tư phát triển bằng phương thức cấp phát lệnh chi tiền và cấp phát kinh phí hành chính sự nghiệp thông qua kho bạc bằng phương thức hạn mức kinh phí không theo nguyên tắc thanh toán trực tiếp. Khi đã nhận vốn hoặc đã có hạn mức, đơn vị kiến thiết hoặc đơn vị dự toán tự tổ chức việc chi trả, thanh toán, thoát ly sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan Ngân hàng, Tài chính và Kho bạc.
Mặt khác mục lục ngân sách Nhà nước ban hành đã lâu và đã được cải tiến, nhưng cả 3 khâu: lập, chấp hành và quyết toán chưa thực hiện theo đúng chương loại khoản hạng mục quy định. Riêng việc trình tổng quyết toán ngân sách Nhà nước còn đơn giản, sơ sài. Các chỉ tiêu thu, chi đề cập còn chung chung. Hiện tượng thu, chi sai chế độ không được phân tích rõ nguyên nhân, gây thiệt hại lớn cho công quỹ Nhà nước.
 
Công tác quản lý quỹ ngân sách Nhà nước
Công tác quản lý quỹ ngân sách Nhà nước được giao cho Ngân hàng chuyên doanh đảm nhiệm, kết quả là vai trò kiểm tra hoạt động thu chi ngân sách Nhà nước qua quỹ ngân hàng bị chi phối bởi chức năng kinh doanh của Ngân hàng. Công tác đôn đốc các đơn vị kinh tế thu nộp ngân sách và giám sát chi tiêu, sử dụng kinh phí ngân sách bị xem nhẹ, chế độ báo cáo thu chi tồn quỹ hàng ngày của các cấp ngân sách từ cơ sở về trung tâm bị chậm trễ, có trường hợp được xem là Ngân hàng chuyên doanh cố tình chiếm dụng vốn ngân sách để quay vòng thu lợi.
Trước tình hình đó, từ 1-4-1989, Ngân hàng Nhà nước đã thành lập Phòng đại diện của mình đặt tại Ngân hàng chuyên doanh cơ sở để tăng cường công tác quản lý quỹ ngân sách Nhà nước. Nhờ đó, công tác thanh toán thu nộp, cấp phát kinh phí ngân sách được cải thiện, công tác điện báo thu chi tồn quỹ hàng ngày của các cấp ngân sách từ cơ sở về trung tâm được kịp thời hơn trước.
Tuy nhiên, trước yêu cầu tất yếu khách quan về đổi mới cơ bản mối quan hệ giữa tài chính Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước về phương diện quản lý quỹ ngân sách, từ 1-4-1990, Hội đồng Chính phủ đã có quyết định thành lập hệ thống Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính.
Kho bạc Nhà nước là tổ chức chịu trách nhiệm quản lý quỹ ngân sách Nhà nước, quản lý các tài sản quốc gia bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc, kim loại, đá quý và các ngân quỹ khác của Nhà nước, của các cơ quan, tổ chức hành chính, xã hội và quản lý các nguồn vốn vay dân và trả nợ dân thông qua công tác tín dụng Nhà nước và công tác phát hành các hình thức tín phiếu, trái phiếu của Chính phủ.
Quyết định thành lập hệ thống kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính đã giúp cho ngân sách Nhà nước trực tiếp quản lý và sử dụng có hiệu quả quỹ ngân sách. Cùng với việc đổi mới tổ chức hoạt động và cơ chế quản lý, hệ thống xử lý thông tin bằng máy vi tính ở Kho bạc Nhà nước được xây dựng đã phát huy tác dụng tốt trong công tác điều hành ngân sách Nhà nước: thu ngân sách được tập trung nhanh, cấp phát và chi trả ngân sách được đảm bảo đúng nguyên tắc, kịp thời, thuận lợi cho đối tượng sử dụng kinh phí, công tác hạch toán được thực hiện đầy đủ, chế độ thông tin, báo cáo được chấp hành nghiêm túc.
Tuy nhiên, hệ thống Kho bạc Nhà nước cũng còn những hạn chế trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính, tiền tệ, ngân sách. Trước hết Nhà nước cần có cơ chế tháo gỡ trong kế hoạch hoá và điều hành ngân sách, trong quan hệ và phân định trách nhiệm giữa kho bạc và ngân hàng, nhất là các quan hệ thanh toán và điều hoà tiền mặt đáp ứng nhu cầu hoạt động của kho bạc. Trong nội bộ hệ thống, Kho bạc Nhà nước phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý, tổ chức tốt việc thanh toán, nâng cao chất lượng hệ thống xử lý thông tin. Tiếp đến ngành tài chính phải cải tiến công tác thu, chi ngân sách và cấp phát kinh phí phù hợp với nhiệm vụ của kho bạc, phù hợp với công cuộc đổi mới nền kinh tế của đất nước.
 
Cân đối thu chi và các giải pháp xử lý bội chi ngân sách
Kết quả đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và chính sách tài chính đã có những tác động tích cực đến kết quả thực hiện ngân sách Nhà nước trong giai đoạn 1986-1990. Các khoản thu chủ yếu của ngân sách tăng lên bắt nguồn từ chính sách động viên tài chính được sửa đổi, các Luật thuế mới được ban hành. Chi của ngân sách để thực hiện các mục tiêu của kế hoạch kinh tế - xã hội được huy động từ nhiều nguồn: nguồn vốn theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, nguồn vốn liên doanh, hợp tác đầu tư với nước ngoài.
Mặc dù vậy, trong 5 năm 1986 - 1990, thu trong nước mới đáp ứng được 52,2% tổng số chi của ngân sách Nhà nước. Sau khi bù đắp bằng nguồn vay nước ngoài 20,5%, còn lại 27,2% phải phát hành tiền để chi tiêu cho ngân sách. Con số phát hành 27,2% trong giai đoạn 1986 - 1990 so với con số phát hành 28,1% trong giai đoạn 1981 - 1985 thì chưa giảm được bao nhiêu và so với con số phát hành 4,7% trong giai đoạn 1976 - 1980 thì vẫn còn quá cao.
Tuy nhiên điểm khác cơ bản là thu ngân sách trong 5 năm 1986 - 1990, nhất là từ 1988 trở đi, tỷ lệ động viên từ thu nhập quốc dân vào ngân sách Nhà nước đã phản ánh đúng thực chất hơn, không còn hiện tượng “lãi giả lỗ thật” như trước. Chi ngân sách được bố trí lại cho phù hợp với khả năng thu và hạn chế hiện tượng bao cấp tràn lan qua ngân sách. Bội chi tuy còn lớn, nhưng đã tăng được dự trữ Nhà nước về lương thực, vàng, ngoại tệ, thanh toán được nhiều khoản nợ nước ngoài, góp phần kiềm chế và đẩy lùi lạm phát
 
Về phân cấp quản lý NSNN giữa trung ương và địa phương
Trong thời gian đầu của giai đoạn 1986 - 1990, tiếp tục thực hiện nghị quyết 138/HĐBT, nâng tỷ lệ điều tiết cho ngân sách địa phương về lợi nhuận và thu quốc doanh của xí nghiệp địa phương từ 80% lên 100% cho 28 tỉnh, về thuế nông nghiệp, thuế công thương nghiệp từ 40% lên 60% cho 13 tỉnh,v.v... nhằm tạo quyền chủ động cho các tỉnh cân đối thu chi ngân sách tại chỗ, không phụ thuộc vào nguồn trợ cấp của ngân sách trung ương. Số tỉnh, thành phố tự cân đối được ngân sách địa phương từ 18 tỉnh năm 1986 tăng lên 22 tỉnh năm 1987 và 24 tỉnh năm 1988.
Tuy vậy, sau khi thời gian thi hành, nghị quyết 138/HĐBT đã bộc lộ một số tồn tại làm suy yếu nguyên tắc thống nhất của ngân sách Nhà nước. Nguồn thu ngân sách bị phân tán ra quá nhiều cấp, Trung ương không tập trung và chi phối được nguồn vốn để điều hành có hiệu quả, phục vụ cho việc thực hiện những mục tiêu chủ yếu của kế hoạch kinh tế - xã hội của cả nước.
Trước tình hình đó, căn cứ Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI đã đề ra là “Nhà nước trung ương định lại chế độ phân cấp quản lý thu, chi ngân sách cho hợp lý trên cơ sở khuyến khích đúng mức để tăng nhanh nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế, chống thất thu. Mặt khác, phải căn cứ vào nguồn thu mà bố trí chi, không chi vượt quá khả năng thu ngân sách, triệt để tiết kiệm chi tiêu về mọi mặt”. Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị quyết số 186/HĐBT ngày 27-11-1989 về phân cấp quản lý ngân sách cho địa phương.
Một lần nữa nhấn mạnh phân cấp quản lý ngân sách là xác định phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của chính quyền Nhà nước các cấp trong việc quản lý ngân sách Nhà nước, nhằm tập trung đầy đủ, kịp thời đúng chính sách các nguồn thu của ngân sách Nhà nước, phân phối, sử dụng công bằng, hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả cao, phục vụ các mục tiêu nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Theo chế độ phân cấp mới, nội dung chi và cơ chế hình thành nguồn thu của các cấp ngân sách có thay đổi, về chi, trước đây vốn XDCB của ngân sách địa phương gồm 2 nguồn: vốn XDCB của trung ương chuyển về và vốn XDCB do địa phương tự bố trí, nay Nhà nước quy định thống nhất vào một mối và cân đối ngay vào ngân sách địa phương từ đầu năm. Nhà nước đã giao thêm một số nhiệm vụ chi sự nghiệp kinh tế cho ngân sách địa phương như: chi về quy hoạch khảo sát tổng thể của địa phương, trợ cấp khó khăn thường xuyên và đột xuất cho cán bộ công nhân viên chức trên địa bàn (kể cả cán bộ công nhân viên chức của trung ương), chi về quản lý ruộng đất v.v...
Về thu tăng thêm nguồn thu cho ngân sách địa phương bằng cách để lại 100% các khoản thu về tiền nuôi rừng, lệ phí giao thông, các khoản thuế môn bài, trước bạ, sát sinh. Riêng thuế sát sinh để lại 100% cho ngân sách xã.
Thu điều tiết hàng năm cũng có thay đổi về diện và về phương pháp tính. Về diện bao gồm 4 khoản là thu quốc doanh và lợi nhuận xí nghiệp trung ương (trừ lợi nhuận các đơn vị hạch toán toàn ngành), thu nhập thuần tuý tập trung xí nghiệp địa phương (kể cả chênh lệch giá, lãi kinh doanh ngoại thương...), thuế nông nghiệp (kể cả phần để lại cho xã) và thuế công thương nghiệp (trừ thuế môn bài, thuế trước bạ để lại 100% cho ngân sách địa phương và thuế sát sinh để lại 100% cho ngân sách xã). Về phương pháp tính tỷ lệ điều tiết chung áp dụng cho 4 khoản thu nói trên được xác định theo công thức sau:
 
Tổng số chi NSĐP tính theo Số thu các
khoản chế độ đ/mức của Nhà nước - NSĐP hưởng 100%
Tỷ lệ điều tiết chung của 4 khoản
thu trên = cho NSĐP

 
Tổng số thu 4 khoản trên
Tỷ lệ điều tiết trên được mở rộng đến 100% cộng (+) số thu cố định của địa phương được hưởng mà vẫn chưa đủ trang trải các nhiệm vụ chi được giao thì sẽ được ngân sách Trung ương trợ cấp một khoản kinh phí để cân đối ngân sách địa phương.
Về nội dung thu, chi ngân sách phân cấp cho huyện và xã, Hội đồng Bộ trưởng giao cho UBND tỉnh quy định cụ thể cho từng huyện với nguyên tắc là phải phù hợp với chính sách chế độ chung. Về tỷ lệ điều tiết cho ngân sách xã, trước đây Trung ương quy định thống nhất cho xã 10% thuế nông nghiệp, 8% thuế muối... nay quy định để lại cho ngân sách xã 100% thuế sát sinh và giao cho UBND tỉnh quy định tỷ lệ điều tiết số thu về thuế công thương nghiệp, thuế nông nghiệp cho ngân sách xã trong phạm vi được hưởng của ngân sách của địa phượng.
Về quỹ dự trữ tài chính địa phương, Hội đồng Bộ trưởng cho các địa phương được dự trữ tài chính bằng hiện vật gồm 5 loại vật tư: lương thực, phân bón, sắt thép, thuốc trừ sâu, xăng dầu với mức tối đa không quá 50% quỹ dự trữ tài chính.
Thực hiện Nghị quyết 186/HĐBT đã đạt một số kết quả nhất định, đã có 13 trong số 44 tỉnh, thành phố đóng góp cho ngân sách trung ương từ 5% (tỉnh Hải Hưng) đến 70% (thành phố Hồ Chí Minh), số thu thuộc diện điều tiết trên địa bàn. Tỷ lệ điều tiết áp dụng thống nhất không phân biệt thu từ xí nghiệp Trung ương hay xí nghiệp địa phương đã khuyến khích các tỉnh thành phố chủ động khai thác nguồn thu cho ngân sách cấp trên. Thu của ngân sách địa phương năm 1990 bằng 1,63 lần năm 1989. Chi của ngân sách địa phương năm 1990 bằng 1,60 lần năm 1989. Số tiền của ngân sách Trung ương trợ cấp cho ngân sách địa phương năm 1990 chỉ bằng 95,9% năm 1989.
Đối với chính quyền cấp xã, trong lúc Chính phủ chưa sửa đổi Điều lệ ngân sách xã, Bộ Tài chính đã có một số văn bản hướng dẫn các địa phương tự đổi mới trong quá trình củng cố và tăng cường công tác quản lý ngân sách xã. Nhiều tỉnh đã ban hành các văn bản hướng dẫn các xã tổ chức thực hiện quản lý ngân sách sát với tình hình cụ thể địa phương theo từng thời kỳ như Hà Tây, Thanh Hoá, An Giang, Kiên Giang, Thái Bình, Hải Hưng. Đến nay đã có khoảng 8.000 xã được phân cấp quản lý ngân sách xã, còn trên 800 xã miền núi, vùng biên giới vẫn là đơn vị dự toán. Quy mô thu, chi ngân sách xã tăng nhanh. Khoảng 27% số xã có số thu, chi ngân sách trên 100 triệu đồng. Trong điều kiện kinh tế khó khăn, đã xuất hiện một số xã làm tốt công tác ngân sách xã như Vân Tảo (Hà Tây) Thiệu Tâm (Thanh Hoá), Bình Thạnh Đông (An Giang), Mễ Sở (Hải Hưng) (Xem cuốn “Ngân sách xã trong quá trình đổi mới”, Bộ Tài chính, Tháng 11 năm 1992).

 

Bên cạnh những mặt đã đạt được, khá nhiều xã chưa tổ chức khai thác tiềm năng sẵn có, còn buông lỏng các nguồn thu được giao, để thất thu lớn về thuế sát sinh và các loại thuế, lệ phí trên địa bàn xã. Còn khá nhiều khoản chi tiêu ở xã bất hợp lý, chưa chấm dứt được hiện tượng bổ bán chi cho dân chịu. Điều lệ ngân sách xã ban hành từ ngày 8-4-1972 không được sửa đổi để đáp ứng nhu cầu quản lý của cơ sở.


Số lượt người xem: 6073 Bản inQuay lại

TIN MỚI HƠN

TIN ĐÃ ĐƯA

Xem tiếp
Xem theo ngày Xem theo ngày