SỐ LƯỢT TRUY CẬP

3
8
8
2
2
7
7
Lịch sử ngành Tài chính Thứ Bảy, 11/09/2010, 07:35

Giai đoạn 1976 - 1980

 

Về thu Ngân sách Nhà nước
Để đảm bảo nguồn thu Ngân sách, Nhà nước đã thi hành chính sách tài chính tích cực động viên đối với kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, cá thể, đồng thời tranh thủ thu hút nguồn vốn từ nước ngoài dưới hình thức nhận viện trợ và vay nợ.
Đối với kinh tế quốc doanh, tiến hành cuộc tổng kiểm kê tài sản Nhà nước 0 giờ ngày 1/1/1976 ở các tỉnh phía Nam; cùng với việc cho áp dụng chế độ kế toán thống nhất trong các xí nghiệp quốc doanh của Nhà nước. Đến năm 1978 điều kiện mới cho phép, đã thực hiện chế độ thu quốc doanh đối với tất cả các sản phẩm công nghiệp của XNQD. Còn đối với các hoạt động vận tải, bưu điện, kinh doanh ăn uống, dịch vụ... thì nộp dưới hình thức lợi nhuận. Ngoài thu tích luỹ của các xí nghiệp quốc doanh, Nhà nước còn huy động vào Ngân sách 100% khấu hao cơ bản, các khoản hoàn vốn thừa, biến giá TSCĐ, thu khác của xí nghiệp và thu sự nghiệp. Nhờ đó thu từ kinh tế quốc doanh năm 1976 bằng 1,61 lần năm 1975. Tính cả 5 năm 1976-1980 bằng 4,33 lần so với giai đoạn 1961-1965 và bằng 1,76 lần số thu của 10 năm 1966-1975. Về thuế Công thương nghiệp, công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức lại sản xuất kinh doanh và quản lý thu thuế. Đầu năm 1979, Nhà nước đã cho phép vận dụng chính sách thuế Công thương nghiệp ở miền Bắc vào miền Nam. Năm 1980, điều lệ thuế Công thương nghiệp bước đầu được bổ sung, điều lệ đăng ký kinh doanh công thương nghiệp ra đời, đồng thời hệ thống thuế công thương nghiệp từ trung ương đến địa phương được chấn chỉnh và tăng cường một bước nhằm tăng thu cho ngân sách, thực hiện chặt chẽ việc kiểm tra, kiểm soát hoạt động của sản xuất kinh doanh, tăng cường quản lý thị trường. So với năm 1975, thuế công thương nghiệp năm 1976 bằng 3,48 lần. Đến năm 1980, thuế công thương nghiệp gần gấp đôi năm 1976. Tính cả 5 năm 1976 - 1980, thuế công thương nghiệp bằng 5,60 lần so với giai đoạn 1961-1965 và bằng 2,76 lần số thuế công thương nghiệp của 10 năm 1966 - 1975. Về thuế nông nghiệp, sau khi căn bản hoàn thành hợp tác hóa nông nghiệp, trong giai đoạn 1976-1980, mức tính thuế ở miền Bắc được giữ ổn định theo sản lượng năm 1958, với biểu thu thuế theo tỷ lệ áp dụng đối với hợp tác xã và biểu thu thuế theo luỹ tiến áp dụng đối với hộ nông dân cá thể. ở miền Nam, theo tiến độ của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp, từ năm 1979 đã thống nhất áp dụng chế độ thuế đối với nông nghiệp tập thể hoá như ở miền Bắc. Kết quả là so với năm 1975, thuế nông nghiệp năm 1976 bằng 2,31 lần. Tính cả giai đoạn 1976-1980, thuế nông nghiệp bằng 1,52 lần tổng số thu của cả 10 năm 1966-1975. Nhìn chung, trong giai đoạn 1976-1980, tốc độ tăng thu ngân sách không đều nhau: Về thu ngoài nước bằng 7,13 lần so với giai đoạn 1961-1965, nhưng cũng chỉ bằng 69,0% của 10 năm 1966-1977 là giai đoạn cả nước có chiến tranh. Thu trong nước bằng 4,83 lần so với giai đoạn 1961-1965 và bằng 1,82 lần của 10 năm 1966-1975. Nhưng về cơ cấu nguồn thu Ngân sách đã có biến đổi quan trọng: thu trong nước vươn lên chiếm tỷ trọng 60,8% tổng số thu Ngân sách Nhà nước (gần bằng giai đoạn 1965 là 71,5% và vượt xa giai đoạn 1966-1975 chỉ có 37,5%).
Trong cơ cấu nguồn thu ngoài nước thì thu viện trợ không hoàn lại từ chỗ chiếm 50,8% (năm 1976) giảm xuống còn 20,6% (năm 1980). Trong giai đoạn 1976-1980, tổng sản phẩm xã hội tăng bình quân 1,4%, thu nhập quốc dân sản xuất chỉ tăng bình quân 0,4%. Trong khi đó, dân số lại tăng bình quân trên 2,5% làm cho thu nhập bình quân đầu người giảm, cơ sở của nguồn thu tài chính bị eo hẹp, nên tỷ lệ động viên thu nhập quốc dân vào NSNN chỉ đạt 25,2% thấp hơn giai đoạn 1961-1965 là 26,3% và giai đoạn 1971-1975 là 27,2%.
 
Chi Ngân sách Nhà nước
Chi Ngân sáchbước đầu đảm bảo chi cho các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của cả nước:
Tốc độ chi tăng nhanh hơn tốc độ thu Ngân sách. Trong giai đoạn 1976-1980, tổng số chi bằng 5,44 lần so với giai đoạn 1961-1965 (trong đó chi tích luỹ bằng 3,67 lần và chi tiêu dùng bằng 7,72 lần). So với 10 năm 1966-1975, tổng số chi bằng 1,13 lần (trong đó chi tích luỹ chỉ bằng 0,99 lần, nhưng chi tiêu dùng bằng 1,24 lần). Về phân phối vốn của Ngân sách, trong điều kiện nguồn thu có hạn, ngoài phần chi bảo đảm kinh phí quốc phòng, an ninh và cho tiêu dùng, Ngân sách đã cố gắng dành phần đáng kể cho chi tích luỹ, làm cho cơ cấu chi Ngân sách trong giai đoạn 1976-1980 có thay đổi: chi tiêu dùng chiếm tỷ trọng 60,8% tổng số chi Ngân sách (cao hơn các giai đoạn trước đó), chi tích luỹ chiếm tỷ trọng 39,2% tổng số chi Ngân sách, (thấp hơn các giai đoạn trước đó).
Kết quả phân phối vốn Ngân sách nói trên đã phản ánh đúng thực trạng của đất nước vừa ra khỏi chiến tranh, cùng một lúc chúng ta phải thực hiện 2 nhiệm vụ: Khôi phục, phát triển kinh tế và nâng cao đời sống của nhân dân.
Giai đoạn 1976-1980, Ngân sách Nhà nước đã dành 33,9% tổng số chi Ngân sách cho xây dựng cơ bản, nâng cơ cấu vốn XDCB lên 86,7% của chi tích luỹ (cao hơn các giai đoạn trước đây), trong đó đã ưu tiên bỏ 87,3% vốn vào khu vực sản xuất vật chất, hàng năm đã thi công trên 10.000 công trình lớn nhỏ. Trong đó khoảng 1000 công trình trên hạn ngạch, đặc biệt cùng một lúc khởi công nhiều công trình quá lớn như Thuỷ điện Hoà bình, nhiệt điện Phả lại, cầu Thăng long, nhà máy xi măng Bỉm sơn, xi măng Hoàng Thạchv.v... làm cho giá trị TSCĐ tăng bình quân năm 25,4%. Tuy nhiên do chưa có chiến lược và bước đi đúng của thời kỳ hậu chiến, tư tưởng nóng vội chi phối làm cho việc bố trí đầu tư không phù hợp, nên hiệu quả đầu tư thấp. Về vốn lưu động và vốn dự trữ Nhà nước, Ngân sách đã dành trên 4% tổng chi NSNN bằng 13,3% chi tích luỹ để cấp bổ sung vốn lưu động cho các xí nghiệp quốc doanh, chủ yếu cho công nghiệp miền Nam để duy trì và đẩy mạnh sản xuất kinh doanh. Bên cạnh chi tích luỹ, Nhà nước đã dành phần thích đáng cho chi tiêu dùng với tốc độ tăng chi bình quân 13,4% trong giai đoạn 1976-1980, trong đó:
+ Chi sự nghiệp chiếm tỷ trọng lớn thứ hai (39,7%)
+ Chi khác (bao gồm cả chi quốc phòng, an ninh, chi trả nợ, viện trợ CK...) chiếm tỷ trọng lớn nhất (44,1%).
+ Chi bù lỗ, bù giá tuy chỉ chiếm tỷ trọng 9,3% nhưng có tốc độ tăng bình quân 53,2% nhằm cố gắng đảm bảo tiền lương thực tế của cán bộ công nhân viên chức Nhà nước.
+ Chi hành chính sự nghiệp chiếm tỷ trọng 6,9%, tăng bình quân 4,55% do những năm đầu của giai đoạn 1976-1980, một mặt vừa tiếp quản số viên chức của chính quyền cũ để lại, mặt khác phải tăng cường đội ngũ cán bộ đủ sức để đảm bảo ổn định về kinh tế - xã hội và các nhu cầu khác của đất nước.
 
Công tác lập và chấp hành Ngân sách Nhà nước
Sau ngày thống nhất Tổ quốc, công tác lập và chấp hành Ngân sách quy định tại Điều lệ ban hành theo Nghị định số 168/CP ngày 20/10/1961 đã sớm được triển khai thống nhất, phù hợp với những đặc điểm kinh tế - xã hội của cả nước.
Trong khâu lập Ngân sách, do đặc điểm còn lưu hành hai đồng tiền, nên đầu năm 1996, dự thảo Ngân sách Nhà nước được xây dựng và chia làm hai phần: Phần thực hiện ở miền Bắc và phần thực hiện ở miền Nam. Tháng 7/1976, sau khi bầu cử Quốc hội khoá V và hoàn thành thống nhất Tổ quốc về mặt Nhà nước, theo phương hướng nhiệm vụ kinh tế - xã hội điều chỉnh. Hội đồng Chính phủ đã thông qua Ngân sách Nhà nước điều chỉnh theo đồng tiền quy đổi chung của cả nước. Trình tự lập Ngân sách, phê chuẩn Ngân sách, thông báo Ngân sách được tổ chức thực hiện cùng một lúc với trình tự xây dựng kế hoạch kinh tế - xã hội của cả nước.
Tuy nhiên công tác lập Ngân sách còn những mặt hạn chế, dự toán chưa được tổng hợp từ cơ sở và chưa kết hợp chặt chẽ giữa kế hoạch tài chính và kế hoạch hiện vật. Khâu lập Ngân sách thường được tổng hợp trên cơ sở dự toán thu chi của các Bộ, các địa phương. Song ở những bước tiếp theo do phải lo đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của Chính phủ, Quốc hội hơn là xem xét tình hình thực tế của các Bộ, các địa phương và cơ sở nên Ngân sách thiếu căn cứ thực tiễn. Trong mối quan hệ giữa kế hoạch hiện vật với giá trị, thường xuất hiện mâu thuẫn trong lĩnh vực kế hoạch hóa đầu tư XDCB do kế hoạch tài chính không thoả mãn đủ nguồn vốn để thực hiện kế hoạch hoá khối lượng.
Khâu chấp hành Ngân sách căn cứ theo kế hoạch Quốc hội phê chuẩn và Thông báo của Chính phủ, ngành tài chính thực hiện thống nhất trong cả nước, thông qua việc điều hành thu chi quý, tháng của Ngân sách Nhà nước. Cùng với việc xây dựng và củng cố tổ chức bộ máy ngành tài chính, Ngân sách các tỉnh/thành phố, nhất là các tỉnh miền Nam đã từng bước đi vào nề nếp, giúp cho việc quản lý Ngân sách được thông suốt trong cả nước. Nét nổi bật trong giai doạn này là mặc dù bị bão lụt nặng nề trong năm 1977 và chiến tranh biên giới liên tiếp trong các năm 1978 và 1979, nhưng Ngân sách đã đáp ứng được những nhu cầu chi tiêu đột xuất khá lớn để giúp đỡ nhân dân khôi phục sản xuất và ổn định đời sống sau thiên tai, địch hoạ.
Quá trình chấp hành Ngân sách cũng còn nhiều hạn chế: về thu do tổ chức bộ máy thu chưa đủ mạnh, việc quản lý nguồn thu còn lỏng lẻo, nhất là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Nên thất thu còn lớn, nhất là về thuế lợi tức siêu ngạch và các hộ tư thương ở các tỉnh miền Nam. Về chi: nhiều định mức tiêu chuẩn, chế độ chi tiêu hành chính sự nghiệp chưa được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội ở cả hai miền.
Công tác hạch toán, kế toán Ngân sách cũng từng bước được tăng cường củng cố, phản ánh đúng nội dung thu chi của các đơn vụ dự toán các ngành, các địa phương theo mục lục ngân sách Nhà nước. Chế độ kế toán Ngân sách, chế độ kế toán kho bạc và chế độ kế toán các đơn vị dự toán được thi hành thống nhất trong cả nước. Việc tổng hợp và trình tổng quyết toán Ngân sách Nhà nước để Quốc hội phê chuẩn được đảm bảo cả về mặt nội dung và thời gian. Nhưng so với yêu cầu thì việc quyết toán Ngân sách vẫn là khâu yếu nhất. Do báo cáo quyết toán của các đơn vị, địa phương không đẩy đủ và kịp thời, nên có trường hợp cơ quan tài chính phải chấp nhận số liệu đơn vị lĩnh tiền ở Ngân hàng Nhà nước (bộ phận quản lý quỹ Ngân sách các cấp) để làm số quyết toán chi Ngân sách Nhà nước.
 
Công tác quản lý quỹ Ngân sách trong tổ chức ngân hàng
Trong giai đoạn này, hệ thống ngân hàng Nhà nước Việt nam về cơ bản vẫn là tổ chức ngân hàng một cấp với mạng lưới chi nhánh Ngân hàng ở tỉnh và Chi điếm Ngân hàng ở huyện. Trong lĩnh vực quản lý quỹ ngân sách Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước Việt nam được giao nhiệm vụ tổ chức và kiểm tra việc thu nộp tài chính Nhà nước, tiến hành việc phát triển và tham gia việc sử dụng tài chính Nhà nước đối với các cơ quan, các xí nghiệp (Điều 30 Nghị định số 168/CP ngày 20/10/1961 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ lập và chấp hành Ngân sách)
Theo nhiệm vụ được giao, Kho bạc Nhà nước trong hệ thống Ngân hàng được thành lập, trong đó Kho bạc Trung ương phụ trách hệ thống thu, chi tài chính cấp tổng dự toán Trung ương ; kho bạc tỉnh, thành phố phụ trách hệ thống cấp tổng dự toán tỉnh/ thành phố và thay mặt kho bạc TW thu nhận tiền, theo dõi phần tổng dự toán TW thi hành ở tỉnh, thành phố.
Sau ngày 30/4/1975, cùng với Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt nam đã tiếp quản Nha Ngân khố của chính quyền ngụy Sài gòn và nhanh chóng thiết lập bộ phận kho bạc ở các Chi nhánh, Chi điếm góp phần đưa công tác quản lý quỹ ngân sách Nhà nước ở các tỉnh phía Nam dần đi vào nề nếp. Năm 1978 khi Chính phủ chủ trương xây dựng huyện trở thành cấp ngân sách, dưới sự chỉ đạo của ngân hàng Nhà nước trung ương, tổ chức và hoạt động của bộ máy Kho bạc ở 500 Chi điếm Ngân hàng đã sớm triển khai công tác quản lý quỹ Ngân sách Nhà nước, góp phần thúc đẩy Ngân sách cấp huyện hình thành và phát huy tác dụng.
Tuy nhiên việc quản lý và điều hoà tiền vốn các quỹ Ngân sách lại tuỳ thuộc vào quyền Ngân hàng Nhà nước, nên vốn nhàn rỗi của tài chính Nhà nước nằm trong tài khoản tồn quỹ của Ngân sách các cấp và tài khoản tiền gửi của các đơn vị dự toán các cấp rất lớn, nhưng không điều hoà được làm cho việc cân đối Ngân sách Nhà nước gặp rất nhiều khó khăn.
 
Cân đối thu chi và các giải pháp xử lý bội chi
Ngân sách Do nền kinh tế nước ta chủ yếu còn là sản xuất nhỏ, lại bị chiến tranh tàn phá và mất cân đối nghiêm trọng, cho nên nguồn thu trong nước tuy có tăng lên nhưng không đáp ứng đủ yêu cầu to lớn về xây dựng, quốc phòng và đời sống. Thu trong nước của ngân sách trong giai đoạn 1976-1980 mới đảm bảo được 64,4% chi của Ngân sách. Nước ta chưa có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân.
Để xử lý số thâm hụt của Ngân sách, chúng ta phải dựa vào nguồn thu ngoài nước, nhưng cũng chỉ đáp ứng được 30,9% nhu cầu chi, phải phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt chi Ngân sách. Điều đáng chú ý là trong khi Ngân sách Nhà nước bội chi thì Ngân sách địa phương lại bội thu. Số bội thu của Ngân sách địa phương bằng 1/3 số tiền phải phát hành để chi tiêu cho Ngân sách. Nhưng trung ương không điều động được số bội thu của Ngân sách địa phương nhằm giảm bớt mức độ thâm hụt của Ngân sách. Mặt khác, trong giai đoạn 1976-1980, Nhà nước mới xử lý số bội chi Ngân sách bằng biện pháp vay nước ngoài, mà chưa tăng cường biện pháp vay dân để cân đối Ngân sách.
 
Phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước giữa trung ương và địa phương
Phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước giữa trung ương và địa phương Sau ngày giải phóng miền Nam, tổ chức bộ máy ngân sách cấp tỉnh sớm hình thành để triển khai Điều lệ phân cấp quản lý tài chính - ngân sách cho các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo Nghị định số 118 CP ngày 1/8/1967 đã là một trong những nhân tố góp phần thống nhất Tổ quốc về mặt Nhà nước. Để tăng cường quản lý kinh tế, tăng cường hiệu quả về tài chính, tạo điều kiện cho chính quyền địa phương các cấp phát huy tính chủ động sáng tạo trong lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 108/CP ngày 13/5/1978 quy định trách nhiệm, quyền hạn của chính quyền Nhà nước cấp tỉnh và cấp huyện về quản lý tài chính và quản lý Ngân sách. Đồng thời chỉ ra nhiệm vụ và nội dung công tác lãnh đạo, chỉ đạo của chính quyền mỗi cấp đối với các quỹ tiền tệ không tập trung trong khu vực kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, cá thể cũng như các quỹ tiền tệ tập trung là Ngân sách, bảo hiểm và tín dụng-ngân hàng.
Theo Nghị quyết 108/CP cơ chế hình thành nguồn thu Ngân sách địa phương được mở rộng bao gồm các nguồn thu dành cho Ngân sách địa phương 100% (thu cố định), thu điều tiết về thu quốc doanh, lợi nhuận của xí nghiệp trung ương, xí nghiệp địa phương và thuế nông nghiệp, thuế công thương nghiệp... Tỷ lệ điều tiết do Chính phủ quy định được ổn định trong một thời gian nhất định. Riêng ở miền Nam được xác định mỗi năm một lần theo tiến độ cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế tập thể và cá thể. Ngoài ra ở một tỉnh nếu thu cố định và thu điều tiết vẫn không đảm bảo yêu cầu nhiệm vụ chi, thì Ngân sách TW sẽ trợ cấp cho Ngân sách địa phương.
Thực hiện chế độ phân cấp quản lý tài chính - ngân sách đã làm cho số thu Ngân sách địa phương năm 1980 tăng 43,5% so với năm 1976, còn số chi Ngân sách địa phương năm 1980 chỉ tăng 1,5% so với năm 1976, nhưng được quản lý chặt chẽ hơn.
Về Ngân sách xã tuy đã có Nghị định 64/CP ngày 8/4/1972 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ ngân sách xã áp dụng cho miền Bắc. Sau khi có Nghị quyết 108/CP, ngân sách xã đã được áp dụng rộng rãi trong cả nước, tạo điều kiện cho chính quyền cấp xã có phương tiện tài chính để thực thi nhiệm vụ của mình.

 

Nhìn chung thực hiện chế độ phân cấp quản lý tài chính và ngân sách giữa Trung ương và địa phương đã có những tác động tích cực thúc đẩy kinh tế địa phương mạnh lên, nguồn thu Ngân sách được phát triển, số thu Ngân sách Nhà nước tại địa phương cũng tăng lên, nhất là nguồn thu gắn với kinh tế và quản lý trực tiếp của địa phương. Bên cạnh những ưu điểm trên còn có những nhược điểm, trong quá trình thực hiện chưa đảm bảo tính thống nhất và tập trung của tài chính Nhà nước, đồng thời cũng chưa phát huy đầy đủ tính chủ động sáng tạo của địa phương trong quản lý tài chính và Ngân sách.


Số lượt người xem: 3825 Bản inQuay lại

TIN MỚI HƠN

TIN ĐÃ ĐƯA

Xem tiếp
Xem theo ngày Xem theo ngày