SỐ LƯỢT TRUY CẬP

3
8
8
0
9
3
4
Lịch sử ngành Tài chính Thứ Bảy, 11/09/2010, 07:35

Giai đoạn 1955 - 1975

 

Xây dựng và thực hiện Ngân sách Nhà nước phù hợp với đặc điểm tình hình và yêu cầu của nhiệm vụ giai đoạn khôi phục kinh tế 1955-1957
Kết quả thực hiện các chính sách, chế độ, biện pháp tài chính đã được ban hành thể hiện tổng hợp ở ngân sách Nhà nước và ở tác động của ngân sách đến việc triển khai các nhiệm vụ kinh tế xã hội. Nhìn vào cơ cấu ngân sách và kết quả thu chi ngân sách, thấy rõ việc thực hiện ngân sách đã có sự thay đổi đáng kể so với trước, phù hợp với tình hình và nhiệm vụ giai đoạn khôi phục kinh tế.
Về thu thì số thu trong nước tăng nhanh, năm 1957 gần gấp đôi năm 1955 trong đó thu từ xí nghiệp quốc doanh tăng nhanh nhất, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu Ngân sách, chứng tỏ Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm đến việc phát triển kinh tế quốc doanh ngay trong thời gian khôi phục kinh tế, đó là sự đảm bảo chắc chắn cho việc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa cũng như cho sự ổn định và phát triển của tài chính và ngân sách Nhà nước trong những chặng đường tiếp theo.
Thu về thuế vẫn là nguồn thu rất quan trọng chiếm vị trí lớn nhất. Chiều hướng có phần giảm về tỷ trọng trong ngân sách do tốc độ tăng thu từ xí nghiệp quốc doanh nhanh hơn và do Đảng và Nhà nước quan tâm giảm nhẹ đóng góp của nông dân. Nhưng cần thấy rằng mức giảm sút đó còn có nguyên nhân thất thu khá lớn, trong khi tỷ lệ động viên chung vào ngân sách Nhà nước đạt trên 20% thu nhập quốc dân sản xuất (1956:23,1%, 1957: 22,7%) thì tỷ lệ động viên về thuế công thương nghiệp đạt mức rất thấp, chỉ chiếm 7,5% thu nhập quốc dân ở khu vực này do tình trạng trốn thuế, lậu thuế còn khá phổ biến; tỷ lệ động viên về thuế nông nghiệp giảm từ 17,5% năm 1955 xuống còn 6% năm 1957 so với thu nhập của nông dân một phần quan trọng do kê khai sụt diện tích và sản lượng sau cải cách ruộng đất. Tình hình trên nói lên khả năng to lớn của thuế trong điều kiện kinh tế sản xuất nhỏ, cá thể còn rộng lớn, vừa nói lên tích chất phức tạp, khó khăn trong việc đấu tranh thực hiện chính sách.
Cả hai nguồn thu trong nước và ngoài nước đều tăng, nhưng tỷ trọng nguồn thu ngoài nước giảm xuống, tỷ trọng nguồn thu trong nước tăng đã thể hiện sự phát triển tích cực, lành mạnh của tình hình kinh tế và tài chính trong giai đoạn khôi phục kinh tế.
Cả hai nguồn thu trong nước và ngoài nước đều tăng, nhưng tỷ trọng nguồn thu ngoài nước giảm xuống, tỷ trọng nguồn thu trong nước tăng đã thể hiện sự phát triển tích cực, lành mạnh của tình hình kinh tế và tài chính trong giai đoạn khôi phục kinh tế.
Về chi thì quy mô, phương hướng và kết cấu thay đổi rõ rệt so với thời kỳ kháng chiến, phản ánh đúng và đáp ứng tốt đòi hỏi của nhiệm vụ mới.
Tốc độ chi tăng hàng năm: năm 1956 so với năm 1955 tăng 58%, năm 1957 so với năm 1956 tăng 12,7%.
Nét nổi bật là nếu trong chiến tranh, ngân sách chủ yếu phục vụ cho chiến đấu, phần dành cho xây dựng kinh tế rất ít, thì nay khoản chi cho xây dựng kinh tế và phát triển văn hoá chiếm tỷ trọng tuyệt đối lớn, năm sau cao hơn năm trước, tính bình quân trong ba năm (1955-1957) chiếm khoảng 60% tổng số chi ngân sách, còn chi quốc phòng giảm nhiều so với trước, đặc biệt là chi cho quản lý hành chính được Nhà nước tăng cường quản lý, quy định tiêu chuẩn, định mức chặt chẽ nên tỷ trọng giảm nhanh qua từng năm.
Ngân sách đã dành trên 45% tổng số chi cho kiến thiết cơ bản, trong đó chi kiến thiết cho khu vực sản xuất chiếm gần 80%, với tốc độ tăng chi bình quân hàng năm là 56%. Từ số vốn này, ngành công nghiệp đã được đầu tư khoảng 30% trong ba năm, tăng từ 6,9% năm 1955 lên 30,6% năm 1956 và 41,8% năm 1957, để khôi phục các xí nghiệp cũ, xây dựng một số cơ sở mới chú trọng trước hết công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng đồng thời quan tâm đúng mức đến các ngành công nghiệp nặng quan hệ trực tiếp đến công nghiệp nhẹ và nông nghiệp: ngành nông nghiệp nhận được 13,3% để phục hồi và xây dựng thuỷ lợi và xây dựng một số nông trường, chưa kể nông dân còn nhận được một khoản vốn bằng khoảng 1/3 mức đầu tư ấy từ nguồn tín dụng ngân hàng để mua sắm nông cụ, trâu bò và phân bón.
Công cuộc khôi phục kinh tế được bảo đảm kịp thời về mặt tài chính đã đạt thành tựu to lớn. Đến hết năm 1957, nông nghiệp không những hàn gắn xong vết thương chiến tranh mà còn phát triển một bước, vượt mức của năm 1939, năm cao nhất trong thời kỳ Pháp thuộc: năm 1939 diện tích trồng lúa của miền Bắc là 1.811.000 ha, năng suất 13,04 tạ/ha, sản lượng 2.407 tấn, thóc bình quân đầu người là 211,2 kg thì các con số tương ứng của năm 1957 là 2.191.800 ha, 18,01 tạ/ha, 3.948 tấn và 286,7 kg. Lĩnh vực chăn nuôi cũng vậy, năm 1957 so với năm 1939, đàn trâu tăng 51,1%, đàn bò tăng 60,1%, đàn lợn tăng 30,8%. Về công nghiệp số xí nghiệp được khôi phục năm 1955 là 21 cơ sở, năm 1956 là 110 và năm 1957 là 150, trong đó có 93 xí nghiệp do TW quản lý mà 50 là xí nghiệp là cơ sở mới xây dựng bao gồm cả nhà máy cơ khí Hà Nội, con đầu lòng của công nghiệp chế tạo máy Việt Nam ra đời ngay trong thời gian này. Đến cuối năm 1957 sản xuất công nghiệp đã đạt mức năm 1939 trong đó sản lượng công nghiệp quốc doanh chiếm tỷ trọng lớn và ngày càng tăng (1955: 41,7%; 1956: 60,3%; 1957: 66,6%). Mặt khác, thủ công nghiệp cũng được khuyến khích hỗ trợ nên phục hồi và phát triển khá đến năm 1955 chỉ có 111.300 cơ sở với 298.400 lao động thì cuối năm 1957 đã có 156.329 cơ sở với 440.000 lao động. Do vậy sản lượng công nghiệp và thủ công nghiệp tăng lên rõ rệt, cuối năm 1957 bằng 299,8% năm 1939, trong đó nhóm A bằng 134,4% và nhóm B bằng 483,1% mức năm 1939, đã cung cấp cho nền kinh tế quốc dân những sản phẩm thiết yếu, góp phần có hiệu quả vào việc khôi phục nông nghiệp, giao thông vận tải... và đã đáp ứng được những nhu cầu hàng tiêu dùng thiết yếu của nhân dân, có cả một số mặt hàng trước đây ta chưa sản xuất được, phải hoàn toàn dựa vào nhập khẩu.
Tóm lại, nhiệm vụ cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế đã hoàn thành tốt đẹp. Sản xuất công, nông nghiệp không những đạt mà còn nhiều mặt vượt mức của năm cao nhất trước chiến tranh, giao thông vận tải không còn bị ách tắc, lưu thông hàng hoá được mở rộng trên toàn miền Bắc, thị trường giá cả, tiền tệ đi vào thế ổn định, đời sống nhân dân bớt khó khăn có mặt được cải thiện, nhất là nông dân. Tài chính đã quán triệt chủ trương quan điểm của Đảng, vươn lên cân bằng được thu chi ngân sách một cách tích cực, đáp ứng tốt nhu cầu về vốn to lớn hơn trước và sử dụng vốn đúng hướng, có hiệu quả góp phần xứng đáng vào thắng lợi của những nhiệm vụ kinh tế xã hội trong giai đoạn này, đạt được bước phát triển rõ rệt về lượng cũng như về chất và từ những thành tựu của công cuộc khôi phục kinh tế tài chính đã có cơ sở vững chắc hơn để tiếp tục phát huy vai trò và tác dụng của mình trên con đường tiến lên xây dựng chủ nghĩa xa hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Phục vụ nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển một bước kinh tế và văn hoá miền Bắc, đồng thời dựa vào kết quả thực hiện nhiệm vụ đó, ngân sách Nhà nước đã được tiếp tục củng cố và phát triển
 
Ba năm cải tạo Xã hội Chủ nghĩa và bước đầu phát triển kinh tế và văn hoá (1958-1960) - Ngân sách Nhà nước được tiếp tục củng cố và phát triển
Trong ba năm 1958 - 1960, nhờ những cố gắng về mọi mặt thực hiện thắng lợi kế hoạch cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế văn hoá nền sản xuất xã hội của miền Bắc với tốc độ nhanh. Bình quân hàng năm sản phẩm xã hội tăng 14,1% thu nhập quốc dân càng tăng với nhịp độ cao.
Trên cơ sở thu nhập quốc dân tăng và với các chính sách tài chính được hoàn thiện, bổ sung thêm, đã cố gắng tổ chức công tác động viên nguồn vốn trong nước, tranh thủ nguồn vốn ngoài nước nên thu ngân sách Nhà nước tăng nhanh qua từng năm với tốc độ cao, đáp ứng nhu cầu của nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mở đầu công cuộc xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa. Mặc dầu nguồn viện trợ của các nước anh em ngày càng nhiều, tỷ trọng số thu trong nước tong tổng số thu ngân sách vẫn tăng lên năm sau cao hơn năm trước, nhất là thu từ kinh tế quốc doanh .
Nhịp độ tăng thu từ kinh tế quốc doanh, nhanh hơn nhiều so với nhịp độ tăng thu ngân sách nói chung, so với nhịp độ tăng nguồn thu trong nước nói riêng, đánh dấu bước chuyển biến rất cơ bản của nền tài chính. Ngân sách Nhà nước, kế hoạch cơ bản của tài chính Nhà nước, đã tạo được chỗ dựa vững chắc là nền kinh tế quốc dân phát triển, lại có cơ sở đảm bảo tính ổn định là khu vực kinh tế quốc doanh ngày càng lớn mạnh đóng góp tới trên 60% tổng số thu ngân sách hàng năm. Tình hình đó đã thể hiện tính đúng đắn của quan điểm tự lực, tự cường kết hợp tranh thủ và sử dụng có hiệu quả sự viện trợ của các nước anh em, của quan điểm gắn chặt cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế trong giai đoạn 1958-1960
Về chi ngân sách, cũng có sự tăng lên tương ứng với tốc độ tăng thu. Tốc độ tăng chi năm sau cao hơn năm trước một cách liên tục: năm 1958 tăng 11,7% so với năm 1957, năm 1959 tăng 26,4% so với năm 1960 tăng 27,9% so với năm 1959.
Việc bố trí ngân sách đã đi theo hướng giảm dần chi cho khu vực không sản xuất, tập trung nhiều hơn trước cho phát triển kinh tế, văn hoá. Mặc dầu Nhà nước đã thực hiện việc cải tiến chế độ tiền lương và tăng lương cho công nhân viên chức và lực lượng vũ trang, nhưng nhờ biện pháp tăng cường quản lý và tiết kiệm đã tiếp tục giảm chi cho quốc phòng từ 21,2% tổng số chi ngân sách năm 1957 xuống 16,6% năm 1960, giảm chi hành chính và các loại chi khác từ 17% năm 1957 xuống 14,8% năn 1960. Khoản chi cho phát triển kinh tế văn hoá chiếm xấp xỉ 70% tổng số chi ngân sách, về mặt tỷ trọng tăng 10% hơn giai đoạn1955 - 1957, đã đáp ứng đúng yêu cầu của kế hoạch ba năm 1958 - 1960. Riêng chi cho phát triển kinh tế chiếm trung bình 55% tổng số chi ngân sách hàng năm trong đó số chi về xây dựng cơ bản chiếm vị trí cao nhất. Năm 1958 chi xây dựng cơ bản chiếm 35,3% tổng số chi ngân sách, năm 1959 là 43,8% và năm 1960 lên tới 50,6%, bảo đảm đạt khối lượng thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước cho các ngành kinh tế quốc dân bình quân năm trong giai đoạn 1958-1960 bằng 223% của giai đoạn 1955 - 1957, một sự đóng góp tích cực và có hiệu quả vào thắng lợi của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và bước đầu phát triển kinh tế ở miền Bắc nước ta.
Điểm đáng chú ý khác là chi cho văn hoá xã hội cũng tăng lên, bảo đảm cho lĩnh vực văn hoá, y tế phát triển hài hoà với sự tăng trưởng về kinh tế. Đến cuối năm 1959, về giáo dục, số học sinh phổ thông tăng lên bằng 1,5 lần năm 1957, gấp 11 lần hồi Pháp thuộc, sinh viên đại học bằng 2,1 lần năm 1957, gấp 14 lần thời Pháp thuộc; về văn hoá nghệ thuật, các loại hình đều phát triển, tiêu biểu là số sách xuất bản gấp 11 lần hồi Pháp thuộc và số thư viện tăng, đặc biệt là các tủ sách phát triển khá phổ biến đến tất cả các cơ quan xí nghiệp, khu phố và nông thôn; về y tế, số giường bệnh tăng gần 60% so với năm 1957, tất cả các xã đều có ban phòng bệnh và nhiều cán bộ y tế cũng như nữ hộ sinh xã.
Bám sát và phục vụ đắc lực nhiệm vụ chính trị, ngân sách Nhà nước trong những năm 1958-1960 đã được tổ chức và quản lý với tinh thần cân đối thu chi một cách tích cực, chẳng những đáp ứng nhu cầu vốn tăng lên mà còn có một số kết dư, thực sự thể hiện tính chất là ngân sách của nền kinh tế quốc dân phát triển theo chủ nghĩa xã hội.
Phục vụ nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển một bước kinh tế và văn hoá miền Bắc, đồng thời dựa vào kết quả thực hiện nhiệm vụ đó, ngân sách Nhà nước đã được tiếp tục củng cố và phát triển
 
Ba năm cải tạo Xã hội Chủ nghĩa và bước đầu phát triển kinh tế và văn hoá (1958-1960) - Ngân sách Nhà nước được tiếp tục củng cố và phát triển
Trong ba năm 1958 - 1960, nhờ những cố gắng về mọi mặt thực hiện thắng lợi kế hoạch cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế văn hoá nền sản xuất xã hội của miền Bắc với tốc độ nhanh. Bình quân hàng năm sản phẩm xã hội tăng 14,1% thu nhập quốc dân càng tăng với nhịp độ cao.
Trên cơ sở thu nhập quốc dân tăng và với các chính sách tài chính được hoàn thiện, bổ sung thêm, đã cố gắng tổ chức công tác động viên nguồn vốn trong nước, tranh thủ nguồn vốn ngoài nước nên thu ngân sách Nhà nước tăng nhanh qua từng năm với tốc độ cao, đáp ứng nhu cầu của nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mở đầu công cuộc xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa. Mặc dầu nguồn viện trợ của các nước anh em ngày càng nhiều, tỷ trọng số thu trong nước tong tổng số thu ngân sách vẫn tăng lên năm sau cao hơn năm trước, nhất là thu từ kinh tế quốc doanh .
Nhịp độ tăng thu từ kinh tế quốc doanh, nhanh hơn nhiều so với nhịp độ tăng thu ngân sách nói chung, so với nhịp độ tăng nguồn thu trong nước nói riêng, đánh dấu bước chuyển biến rất cơ bản của nền tài chính. Ngân sách Nhà nước, kế hoạch cơ bản của tài chính Nhà nước, đã tạo được chỗ dựa vững chắc là nền kinh tế quốc dân phát triển, lại có cơ sở đảm bảo tính ổn định là khu vực kinh tế quốc doanh ngày càng lớn mạnh đóng góp tới trên 60% tổng số thu ngân sách hàng năm. Tình hình đó đã thể hiện tính đúng đắn của quan điểm tự lực, tự cường kết hợp tranh thủ và sử dụng có hiệu quả sự viện trợ của các nước anh em, của quan điểm gắn chặt cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế trong giai đoạn 1958-1960
Về chi ngân sách, cũng có sự tăng lên tương ứng với tốc độ tăng thu. Tốc độ tăng chi năm sau cao hơn năm trước một cách liên tục: năm 1958 tăng 11,7% so với năm 1957, năm 1959 tăng 26,4% so với năm 1960 tăng 27,9% so với năm 1959.
Việc bố trí ngân sách đã đi theo hướng giảm dần chi cho khu vực không sản xuất, tập trung nhiều hơn trước cho phát triển kinh tế, văn hoá. Mặc dầu Nhà nước đã thực hiện việc cải tiến chế độ tiền lương và tăng lương cho công nhân viên chức và lực lượng vũ trang, nhưng nhờ biện pháp tăng cường quản lý và tiết kiệm đã tiếp tục giảm chi cho quốc phòng từ 21,2% tổng số chi ngân sách năm 1957 xuống 16,6% năm 1960, giảm chi hành chính và các loại chi khác từ 17% năm 1957 xuống 14,8% năn 1960. Khoản chi cho phát triển kinh tế văn hoá chiếm xấp xỉ 70% tổng số chi ngân sách, về mặt tỷ trọng tăng 10% hơn giai đoạn1955 - 1957, đã đáp ứng đúng yêu cầu của kế hoạch ba năm 1958 - 1960. Riêng chi cho phát triển kinh tế chiếm trung bình 55% tổng số chi ngân sách hàng năm trong đó số chi về xây dựng cơ bản chiếm vị trí cao nhất. Năm 1958 chi xây dựng cơ bản chiếm 35,3% tổng số chi ngân sách, năm 1959 là 43,8% và năm 1960 lên tới 50,6%, bảo đảm đạt khối lượng thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước cho các ngành kinh tế quốc dân bình quân năm trong giai đoạn 1958-1960 bằng 223% của giai đoạn 1955 - 1957, một sự đóng góp tích cực và có hiệu quả vào thắng lợi của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và bước đầu phát triển kinh tế ở miền Bắc nước ta.
Điểm đáng chú ý khác là chi cho văn hoá xã hội cũng tăng lên, bảo đảm cho lĩnh vực văn hoá, y tế phát triển hài hoà với sự tăng trưởng về kinh tế. Đến cuối năm 1959, về giáo dục, số học sinh phổ thông tăng lên bằng 1,5 lần năm 1957, gấp 11 lần hồi Pháp thuộc, sinh viên đại học bằng 2,1 lần năm 1957, gấp 14 lần thời Pháp thuộc; về văn hoá nghệ thuật, các loại hình đều phát triển, tiêu biểu là số sách xuất bản gấp 11 lần hồi Pháp thuộc và số thư viện tăng, đặc biệt là các tủ sách phát triển khá phổ biến đến tất cả các cơ quan xí nghiệp, khu phố và nông thôn; về y tế, số giường bệnh tăng gần 60% so với năm 1957, tất cả các xã đều có ban phòng bệnh và nhiều cán bộ y tế cũng như nữ hộ sinh xã.
Bám sát và phục vụ đắc lực nhiệm vụ chính trị, ngân sách Nhà nước trong những năm 1958-1960 đã được tổ chức và quản lý với tinh thần cân đối thu chi một cách tích cực, chẳng những đáp ứng nhu cầu vốn tăng lên mà còn có một số kết dư, thực sự thể hiện tính chất là ngân sách của nền kinh tế quốc dân phát triển theo chủ nghĩa xã hội.
 
Cải tiến các chế độ thu ngân sách nhà nước 1961-1965
Cần phải ra sức tăng thu để có điều kiện tăng chi. Để thực hiện yêu cầu đó của Đại hội Đảng đề ra, Nhà nước đã chủ trương tổ chức lại các nguồn thu, đặc biệt là nguồn thu từ kinh tế quốc doanh:
1. Thí điểm chế độ thu mới đối với kinh tế quốc doanh.
Cho đến cuối năm 1960, các xí nghiệp quốc doanh nộp tích lũy tiền tệ vào ngân sách Nhà nước vẫn thực hiện dưới hai hình thức là thuế và lợi nhuận. Trong đó lợi nhuận chiếm tỷ trọng lớn và ngày càng tăng. Cụ thể tỷ trọng thu về lợi nhuận chiếm trong tổng số thu về tích luỹ tiền tệ của các xí nghiệp quốc doanh qua các năm từ 1957 đến 1960 như sau:
 
1957
1958
1959
1960
Tỷ trọng thu về lợi nhuận trong tổng số thu về tích luỹ tiền tệ của các xí nghiệp quốc doanh
65%
75%
76%
80%
Chế độ thuế đối với các xí nghiệp quốc doanh lúc này, cũng giống như chế độ thuế đối với khu vực kinh tế tư nhân bao gồm nhiều thứ thuế (thuế doanh nghiệp, thuế hàng hoá...) và thu ở nhiều khâu (cả ở khâu sản xuất và khâu lưu thông). Chế độ nhiều thứ thuế, nhiều khâu thu thích hợp đối với kinh tế cá thể, song áp dụng đối với kinh tế quốc doanh thì chế độ này lại gây ra những phiền hà không cần thiết. Hơn nữa đại bộ phận tích luỹ tiền tệ được thực hiện thông qua lợi nhuận ổn định và kịp thời, đồng thời cũng không có lợi cho việc củng cố chế độ hạch toán kinh tế của các xí nghiệp. Vì những lẽ trên, đến năm 1961, thi hành chỉ thị của đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ ba, Nhà nước cho áp dụng thí điểm chế độ thu mới gọi là Chế độ thu quốc doanh: Theo chế độ thu này, đại bộ phận tích luỹ tiền tệ của xí nghiệp được tập trung vào ngân sách Nhà nước qua một hình thức thu cố định gọi là Thu quốc doanh. Mức thu quốc doanh được xác định riêng cho từng mặt hàng hoặc từng loại hàng đó có tích luỹ tiền tệ nhiều hay ít. Về khâu thu được thí điểm thực hiện cả 3 phương án thu ở khâu sản xuất; thu ở khâu lưu thông: vừa thu ở khâu sản xuất vừa thu ở khâu lưu thông. Nhưng cuối cùng dứt khoát chọn phương án thu ở khâu sản xuất. Mỗi khi thuế vốn tiêu thụ sản phẩm xí nghiệp phải căn cứ vào số sản phẩm tiêu thụ và mức thu quốc doanh quy định cho mỗi mặt hàng, loại hàng tính số thu quốc doanh và nộp vào ngân sách Nhà nước: Chế độ thu quốc doanh được áp dụng thí điểm đầu tiên ở các nhà máy: Cơ khí Hà nội, Diêm thống nhất, thuốc Lá Thăng long và dệt Nam đinh . Tháng 10-1962 chế độ thu quốc doanh đã được áp dụng thí điểm rộng rãi hơn và thực tế đã chứng tỏ hình thức thu quốc doanh là phù hợp với quan hệ sản xuất mới nó phản ánh đúng hoạt động kinh tế của xí nghiệp. Khoản thu quốc doanh được nộp mỗi khi xí nghiệp bán hàng và thu được tiền hàng, mức thu được cố đinh không phụ thuộc vào tình hình giá thành thực tế của sản phẩm tiêu thụ đã có tác dụng tăng cường hạch toán kinh tế của xí nghiệp. Mặt khác nó cũng bảo đảm cho ngân sách Nhà nước có được nguồn thu nhập ổn đinh và kịp thời do phần lớn tích lũy tiền tệ được nộp ngay sau khi xí nghiệp công nghiệp tiêu thụ sản phẩm. Cùng với việc mở rộng thí điểm chế độ thu quốc doanh, Nhà nước còn quy định chế độ trích nộp và Sử dụng lợi nhuận của các xí nghiệp.Theo quy định này quyền tự chủ về tài chính của xí nghiệp được rõ ràng hơn so với trước. Cụ thể là lợi nhuận của các xí nghiệp quốc doanh phải trích nộp một phần vào ngân sách Nhà nước, phần lợi nhuận còn lại, xí nghiệp được dùng để lập quỹ xí nghiệp, bổ sung kinh phí chuyên dùng, đầu tư một phần vào việc kiến thiết cơ bản mở rộng của xí nghiệp và bổ sung vốn lưu động.
2. Bổ sung, sửa đổi chế độ thuế đối với kinh tế tập thể và cá thể
Đối với kinh tế tập thể và cá thể, chế độ thu tài chính vẫn giữ nguyên những nguyên tắc căn bản, nhưng cũng có những bổ sung quan trọng để vừa bảo đảm nguồn thu quan trọng cho ngân sách, vừa thúc đẩy củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất mới, xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Tháng 12-1963 Chính phủ chủ trương ổn định nghĩa vụ thuế nông nghiệp. Lúc này sau khi đã căn bản hoàn thành hợp tác hoá nông nghiệp, đơn vị tính và nộp thuế nông nghiệp đã là hợp tác xã. Việc ổn định nghĩa vụ thuế nông nghiệp được tiến hành cụ thể như sau: cho các hợp tác xã và nông dân cá thể (thời kỳ này vẫn còn một ít nông dân cá thể chưa vào hợp tác xã) được phép lấy sản lượng thường niên của ruộng đất đã xác định từ năm 1958 và thuế suất bình quân năm 1961 làm cơ sở tính thuế đó, ổn định nghĩa vụ nộp thuế cho các hợp tác xã và nông dân cá thể. Việc ổn định nghĩa vụ thuế nông nghiệp đã có tác dụng làm cho nông dân phấn khởi, yên tâm sản xuất, cố gắng tăng thêm diện tích, tăng năng suất và sản lượng lương thực trên cơ sở đó mà có điều kiện để cải thiện đời sống, đồng thời góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa. Đối với các hoạt động công thương nghiệp, để đề cao tính ưu việt của hình thức cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với tư bản tư doanh, từ năm 1963, các xí nghiệp công tư hợp doanh được chuyển sang làm nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước như các xí nghiệp quốc doanh. Các xí nghiệp này nộp thu quốc doanh và lợi nhuận chứ không nộp thuế như trước. Chính sách thuế sát sinh cũng được sửa đổi. Theo quyết định của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thì từ nay thuế sát sinh được nộp theo mức cố định theo đầu con súc vật bị giết thịt, chứ không tính theo 10% giá trị con súc vật bị giết như trước nữa. Sự sửa đổi này” nhằm chống lạm sát súc vật, khuyến khích việc chăn nuôi đạt trọng lượng lớn.
 
Tăng cường quản lý ngân sách phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa 1961-1965
Cùng với việc bổ sung và hoàn thiện các chế độ thu chi tài chính, thiết lập các tổ chức quản lý bảo hiểm Nhà nước và đào tạo cán bộ tài chính, việc tăng cường quản lý ngân sách trong thời kỳ này được đặc biệt chú trọng. Ngay năm đầu của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị định ban hành điều lệ lập và chấp hành ngân sách Nhà nước. Khác với những quy định trước đây, điều lệ lần này đã định rõ, đầy đủ nội dung các khoản thu chi được ghi vào dự án ngân sách Nhà nước; trình tự và thời hạn lập dự án ngân sách Nhà nước; trách nhiệm của các ngành các cấp trong việc lập và chấp hành ngân sách Nhà nước. Về cơ cấu hệ thống ngân sách Nhà nước điều lệ xác định rõ: ngân sách Nhà nước gồm có ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương gồm ngân sách tỉnh thành phố và khu trực thuộc Trung ương. Ngân sách xã đã thành một cấp ngân sách, nhưng do trình độ còn thấp, nên chưa được đặt vào trong hệ thống ngân sách Nhà nước thống nhất. Việc phân cấp thu chi giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương được dựa theo chế độ phân cấp quản lý kinh tế và tài chính của Nhà nước nhằm đảm bảo nhu cầu kinh phí của Nhà nước trung ương đồng thời nâng cao tính tích cực của địa phương trong việc bảo đảm sự phát triển nhanh chóng và cân đối giữa các địa phương, giúp đỡ các dân tộc ít người mau tiến kịp trình độ kinh tế và văn hóa chung cả nước. Điều lệ lập và chấp hành ngân sách Nhà nước đã góp phần làm cho ngân sách Nhà nước phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng kinh tế trong thời kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Bằng những biện pháp bổ sung, cải tiến chế độ tăng cường quản lý thu chi và tăng cường quản lý ngân sách nói trên, ngân sách Nhà nước trong những năm 1961 - 1965 đã có những chuyển biến tích cực: 1.Tỷ lệ động viên tài chính trong thu nhập quốc dân thời kỳ này là 28 - 30%, cao hơn thời kỳ 1958 - 1960 từ 2 - 3%. 2.Hệ thống tài chính đã cố gắng phát huy hiệu quả sự giúp đỡ của các nước anh em để tập trung phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Vốn tích lũy giờ đây phần lớn dựa vào nguồn tích lũy từ nội bộ nền kinh tế quốc dân. Phần thu trong nước chiếm tỷ trọng 70 - 80% trong tổng số thu của ngân sách Nhà nước. 3.Số thu từ kinh tế quốc doanh trong các năm từ 1961 - 1964 bằng 2,2 lần số thu cùng loại trong thời kỳ 1958 - 1960. Bình quân trong 4 năm đó, số thu từ kinh tế quốc doanh chi 85% tổng số thu trong nước hoặc trên dưới 70% tổng số thu ngân sách Nhà nước. 4.Trừ năm 1965 là năm có chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, trong những năm 1961 - 1964, ngân sách Nhà nước đều đặt cân đối tích cực. Mỗi năm số thu và chi ngân sách đều tăng từ 5% - 10% đồng thời năm nào cũng bội thu và có kết dư một ít: 1,3% năm 1961, 1,18% năm 1962, 1,6% năm 1963 và 1,2% năm 1964 so với tổng số thu ngân sách trong năm. Do phân cấp quản lý, khuyến khích và nâng cao tính chủ động của các địa phương nên trong quản lý ngân sách, tỷ lệ phần kết dư của ngân sách địa phương thường lớn hơn tỷ lệ phần kết dư của ngân sách trung ương. Năm 1965, do có chiến tranh, ngân sách Nhà nước bội chi 6,5% so với tổng số chi. Phần bội chi này cũng chủ yếu ở ngân sách trung ương. 5.Về chi, từ năm 1961 - 1964 hàng năm, 50% số chi của ngân sách Nhà nước được giành cho xây dựng cơ bản, trong đó có gần một nửa là xây dựng phát triển công nghiệp và xấp xỉ 1/5 dùng để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp: Trong tổng số chi cho công nghiệp của thời kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất thì hơn 3/4 được tập trung cho công nghiệp nặng. Trong đó 20% dành cho ngành điện lực; gần 30% dành cho ngành luyện kim; 16% dành cho ngành than, 17% dành cho ngành hóa chất phân bón; 6% dành cho ngành cơ khí và 5% dành cho ngành vật liệu xây dựng. Công nghiệp nhẹ, tuy vốn đầu tư ít hơn, nhưng do đặc điểm của công nghiệp nhẹ là đầu tư ít, thu hồi vốn nhanh nên không phải vì thế mà công nghiệp nhẹ kém phát triển, ngược lại tốc độ tăng khá cao, bình quân hàng năm từ 1955 - 1964 là 22,4%. Số đầu tư của ngân sách Nhà nước vào nông nghiệp (kể cả trực tiếp và gián tiếp) tăng nhanh qua các năm. Năm 1960 số đó là 100 thì năm 1964 là 234. Còn phải chú ý thêm rằng với chủ trương mở rộng tín dụng dài hạn vào kinh tế tập thể, đặc biệt là khu vực nông nghiệp, ngân sách đã tăng mạnh số vốn chuyển sang ngân hàng để cho vay, năm 1964 gấp 4,5 lần so với năm 1960. Do đó, tuy có năm bị thiên tai nhưng giá trị tổng sản lượng nông nghiệp hàng năm vẫn tăng bình quân 4,1% so với năm 1959 là năm được mùa lớn. Khối lượng sản phẩm hàng hoá của nông nghiệp miền Bắc tăng lên nhanh chóng và số nông sản do thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán thu mua năm 1964 tăng hơn 2 lần so với năm 1960. Như vậy ngân sách Nhà nước trong thời gian kế hoạch 5 năm lần thứ nhất phát triển rất lành mạnh, ngày càng thể hiện rõ tính chất sản xuất và xây dựng, phục vụ đắc lực cho bước khởi đầu công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nước ta.
 
Xây dựng chế độ bảo hiểm Xã Hội 1961-1965
Bước vào thời kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ I, số lượng công chức Nhà nước ngày càng tăng. Hiến pháp được Quốc hội thông qua năm 1959 đã ghi rõ quyền của người lao động được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động. Thực hiện điều quy định này, tháng 12-1961 Chính phủ đã ban hành điều lệ tạm thời về chế độ Bảo hiểm xã hội đối với công nhân, viên chức Nhà nước. Điều lệ này thay thế cho việc giải quyết các khoản trợ cấp xã hội có tính chất riêng lẻ được áp dụng trước đó. Chế độ bảo hiểm xã hội cũng quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động thể hiện ở chỗ trợ cấp bảo hiểm xã hội nói chung thấp hơn tiền lương của công nhân viên chức khi đang làm việc, nhưng mức thấp nhất cũng bằng mức sinh hoạt phí tối thiểu. Mức đãi ngộ về bảo hiểm xã hội được quy định cụ thể căn cứ vào sự cống hiến, thời gian lao động, công tác, điều kiện làm việc, tình trạng mất sức lao động nhiều hay ít của mỗi công nhân viên chức. Quy định lực lượng lao động trong các ngành kinh tế quốc dân. Điều lệ bảo hiểm xã hội bao gồm các phần chế độ: đãi ngộ công nhân viên chức Nhà nước khi ốm đau, khi bị tai nạn lao động hay bệnh nghề nghiệp, thôi việc vì mất sức lao động, trợ cấp hưu trí, đãi ngộ nữ công nhân viên chức Nhà nước khi có thai và khi đẻ, chế độ trợ cấp chôn cất và trợ cấp vì mất người chủ gia đình. Theo điều lệ này, quỹ bảo hiểm xã hội được tạo lập bằng số trích nộp của các cơ quan xí nghiệp theo tỷ lệ % trên tổng quỹ lương của công nhân viên chức (cụ thể là 4,7%) và được giao cho Tổng công đoàn Việt Nam chịu trách nhiệm quản lý và chi tiêu theo mục đích quy định. Tiếp đó, tháng 8-1963 Thủ tướng Chính phủ quy định thêm riêng về chế độ trợ cấp hưu trí và trợ cấp thôi việc vì mất sức lao động đối với công nhân viên chức Nhà nước. Tháng 4-1964 Hội đồng Chính phủ lại quyết định chuyển giao cho Bộ Nội vụ quản lý một phần quỹ bảo hiểm xã hội (1% trong 4,7%) để đài thọ các khoản trợ cấp hưu trí, trợ cấp thôi việc vì mất sức lao động, trợ cấp chôn cất và tử tuất khi công nhân viên chức chết.
Cũng trong thời kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ I, nhận thấy được sự cần thiết phải có quỹ dự trữ Nhà nước về bảo hiểm để bù đắp những thiệt hại do thiên tai và tai nạn bất ngờ gây ra đối với tài sản hàng hóa và tính mạng con người. Hội đồng Chính phủ ra Nghị định thành lập Công ty bảo hiểm Việt Nam trực thuộc Bộ Tài chính. Với sự thành lập Công ty bảo hiểm Việt Nam, một khâu mới trong hệ thống tài chính nước ta được hình thành, Công ty bảo hiểm Việt Nam chuyên trách việc tạo lập quỹ bảo hiểm Nhà nước bằng bảo hiểm phí của những người tham gia bảo hiểm đóng góp và sử dụng quỹ này bù đắp các tổn thất cho những người tham gia bảo hiểm khi gặp rủi ro hay tai nạn bất ngờ. Vì trước năm 1954, miền Bắc nước ta không có các công ty bảo hiểm tư nhân cho nên ngay từ khi thành lập công ty này, Nhà nước đã nắm trọn quyền về bảo hiểm tài sản và nhân thọ. Sau khi được thành lập, Công ty bảo hiểm Việt Nam tiến hành một số loại bảo hiểm như: bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, bảo hiểm tàu biển, bảo hiểm hành khách đi lại trên các phương tiện giao thông công cộng của Nhà nước. Trong các loại bảo hiểm đó, bảo hiểm hành khách đi lại trên các phương tiện giao thông công cộng của Nhà nước là loại bảo hiểm bắt buộc, bảo hiểm phí của hành khách được tính ngay vào giá vé tàu xe, bởi vậy hành khách không thể từ chối. Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu tuy là loại bảo hiểm tự nguyện, song vì Nhà nước nắm trọn quyền về bảo hiểm nên các Công ty xuất nhập khẩu đều phải mua bảo hiểm hàng hóa của mình qua Công ty bảo hiểm Việt Nam. Sự hoạt động của công ty bảo hiểm Nhà nước đã có tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy các biện pháp phòng ngừa tổn thất, góp phần ổn định sản xuất và đời sống và thực hiện một phần tích luỹ vốn cho Nhà nước để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa.
Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày càng đòi hỏi phải có đội ngũ đông đảo cán bộ tài chính vững về chính trị, giỏi về chuyên môn mới đáp ứng được nhu cầu quản lý ngày càng to lớn và phức tạp. Hội đồng Chính phủ đã ra quyết định thành ]ập trường đào tạo cán bộ đại học về tài chính kế toán, với tên gọi là trường cán bộ tài chính kế toán trung ương, trực thuộc Bộ Tài chính. Sau đó lại có quyết định thêm nhiệm vụ đào tạo cán bộ đại học ngân hàng và đổi tên thành trường cán bộ tài chính kế toán ngân hàng Trung ương. Từ đó quy mô đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được mở rộng gấp nhiều lần so với lúc còn đào tạo chung tại trường Đại học kinh tế tài chính, mục tiêu đào tạo bám sát yêu cầu của thực tiễn quản lý, đáp ứng tốt hơn nhu cầu cán bộ tăng lên của hệ thống ngành tài chính và của tất cả các ngành kinh tế quốc dân, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng nền tài chính xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc cũng như nền tài chính cách mạng ở miền Nam trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước.
 
Tăng cường quản lý chi tiêu, thực hành tiết kiệm củng cố thêm một bước chế độ hạch toán kinh tế 1961-1965
Nhu cầu chi tài chính Nhà nước trong kế hoạch 5 năm 1961, 1965 rất to lớn trong khi nguồn thu có hạn. Quán triệt chủ trương phân phối và sử dụng vốn của Đại hội III của Đảng và của Ban chấp hành Trung ương, việc tăng cường quản lý chi tiêu, thực hành tiết kiệm, củng cố hạch toán đã được đặt ra và giải quyết tương đối có hệ thống, phù hợp với yêu cầu mới và bước tiến bộ chung trong quản lý kinh tế - xã hội.
1. Chi tiêu của tài chính Nhà nước phần lớn là chi cho phát triển kinh tế, trong đó chi xây dựng cơ bản chiếm tỷ trọng 40 - 50%. Nguồn vốn gần như duy nhất cho xây dựng cơ bản trong khu vực Nhà nước là dựa vào cấp phát của ngân sách Nhà nước. Vì vậy việc tăng cường quản lý vốn xây dựng cơ bản có ý nghĩa quan trọng bậc nhất đối với việc tiết kiệm chi tiêu ngân sách Nhà nước. Hội đồng Chính phủ đã kịp thời ban hành điều lệ cấp phát vốn kiến thiết cơ bản. Những điều quy định trong điều lệ này có sự khác nhau cơ bản so với trước là: việc cấp phát vốn kiến thiết cơ bản phải theo đúng trình tự, và căn cứ cấp phát, chuyển từ cấp phát theo thực tế chi phí sang cấp phát theo khối lượng công trình. Với chế độ cấp phát theo khối lượng công trình và kiểm soát chi tiêu quỹ tiền lương trong xây dựng cơ bản được ban hành sau đó, vốn xây dựng cơ bản được bỏ ra từng lO ngày hay một tháng phải tương xứng với khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành trong thời gian đó. Điều này đã thúc đẩy các xí nghiệp xây lắp tăng cường hạch toán kinh tế thúc đẩy đơn vị chủ công trình và cơ quan tài chính chuyên trách tăng cường sự kiểm tra, giám sát, ngăn chặn lãng phí, thiệt hại trong xây dựng cơ bản.
2. Đi đôi với việc cải tiến chế độ cấp phát vốn kiến thiết cơ bản, việc cấp phát vốn lưu động cho các xí nghiệp và các ngành kinh tế cũng được cải tiến thích đáng. Năm 1962, Thủ tướng Chính phủ ban hành điều lệ về việc cấp phát và quản lý vốn lưu động ở các xí nghiệp quốc doanh và công tư hợp doanh. Điều lệ này khác so với chế độ ban hành năm 1957 ở chỗ quy đinh rõ thành phần vốn lưu động định mức cho từng ngành kinh tế như công nghiệp, nông trường quốc doanh, xây lắp bao thầu, thương nghiệp, cung tiêu, bưu điện, vận tải v.v... và đặt ra yêu cầu khi xác định định mức vốn phải vừa bảo đảm sản xuất, vừa thực hành tiết kiệm. Điều lệ còn khẳng định rõ một phần vốn lưu động định mức của các xí nghiệp và các ngành kinh tế được cấp phát qua hình thức tín dụng chứ không cấp thẳng cả 100%. Cụ thể là: đối với xí nghiệp công nghiệp, xây lắp bao thầu, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngân sách Nhà nước chỉ cấp thẳng tối đa không qua 70% định mức vốn; đối với vốn dự trữ hàng hóa của xí nghiệp thương nghiệp nội địa cấp 30% định mức vốn v.v... Phần còn lại cấp thông qua ngân hàng một khoản vay gọi là khoản vay trong định mức. Cũng theo điều lệ này, vốn lưu động của các xí nghiệp được quản lý theo những quy đinh chặt chẽ. Xí nghiệp không dược sử dụng vốn lưu động vào việc xây dựng cơ bản, sửa chữa lớn TSCĐ hay dùng làm kinh phí sự nghiệp hoặc kinh phí chuyên dùng. Chỉ tiêu vòng quay vốn lưu động trở thành một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh chất lượng công tác sản xuất kinh doanh của xí nghiệp. Việc ban hành điều lệ về cấp phát và quản lý vốn lưu động nhằm bảo đảm cho xí nghiệp có đủ số vốn cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, đông thời tăng cường chế độ hạch toán kinh tế để tiết kiệm vốn. Vì vậy có thể nói đây là một bước tiến bộ trong công tác quản lý tài chính thẹo yêu cầu của tình hình mới lúc đó.
3. Các khoản chi về văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội và quản lý Nhà nước cũng, chiếm một phần quan trọng trong tổng số chi của ngân sách Nhà nước. Để quản lý chặt chẽ các khoản chi tiêu đó một mặt yêu cầu các ngành có liên quan tổ chức quán triệt những chế độ đã ban hành từ cuối năm 1960, mặt khác, ban hành thêm một số chế độ khác như quy đinh về chế độ quản lý, và kiểm soát chi tiêu quy tiền lương thuộc khu vực không sản xuất, chế độ xét cấp học bổng cho sinh viên, học sinh miền Bắc ở các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề tùy thuộc vào kết quả học tập tu dưỡng và hoàn cảnh kinh tế gia đình của người học. Bằng các quy chế này, hệ thống biện pháp quản lý kinh phí hành chính, kinh phí sự nghiệp văn hóa giáo dục, y tế và xã hội đã được hình thành một cách tương đối hoàn chỉnh, do đó đã phát huy tác dụng tích cực trong việc quản lý các khoản chi tiêu này. Tác động tích cực đối với việc quản lý tài chính trong thời kỳ này còn phải kể đến kết quả của việc thực hiện cuộc vận động “Cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc” theo Nghị quyết của Bộ Chính trị tháng 2-1963 và cuộc vận động “nâng cao ý thức trách nhiệm; tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô lãng phí, quan liêu” gọi tắt là cuộc vận động “3 xây, 3 chống” theo Nghị quyết của Bộ Chính trị tháng 7-1963. Kết quả các cuộc vận động đó đã góp phần làm cho các chế độ thu chi tài chính của Nhà nước được thực hiện nghiêm chỉnh hơn, ngược lại việc cải tiến và tăng cường quản lý tài chính Nhà nước có ảnh hưởng thúc đẩy hai cuộc vận động đó.
4. Trong thời gian này, để phục vụ việc củng cố chế độ hạch toán kinh tế ở các đơn vi sản xuất kinh doanh và tăng cường quản lý chi tiêu tài chính ở khu vực hành chính sự nghiệp, Hội đồng Chính phủ cần ban hành điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước. Bản điều lệ này đã nêu lên những nguyên tắc chung, đồng thời quy định một số công tác kế toán chủ yếu như chứng từ, sổ sách, báo cáo quyết toán, kiểm tra kế toán; tính giá thành và phí lưu thông hàng hóa, bảo quản tài liệu kế toán. Bản điều lệ còn dành một chương nói về kế toán trưởng, về nhiệm vụ và quyền hạn của kế toán trưởng. Điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước đã có ý nghĩa quan trọng đối với việc củng cố công tác kế toán trong các xí nghiệp, các đơn vị, tăng cường việc kiểm tra, kiểm soát của tài chính Nhà nước trong thời kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất cũng như các năm về sau này.
 
Ngân sách Nhà nước thời kỳ 1966 - 1975
Yêu cầu rất to lớn và khẩn trương của nền tài chính quốc gia trong thời kỳ cả nước có chiến tranh với những nhiệm vụ đặc biệt là vừa tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa chiến đấu chống xâm lược được phản ánh tập trung qua quan hệ cân đối thu chi ngân sách Nhà nước.
Quy mô ngân sách Nhà nước lên gấp bội so với thời gian 1961 - 1965. Số thu từ 1966 - 1970 gấp 2 lầm, từ 1971 - 1975 gấp 2,7 lần. Trong đó số thu trong nước chỉ tăng chút ít trong thời gian chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, sau đó nhờ kết quả khôi phục và phát triển kinh tế, thu trong nước tăng lên 1,6 lần so với những năm 1961 - 1965. Đặc biệt tăng nhanh là nguồn thu từ ngoài nước: số tiền viện trợ và vay nợ bình quân năm từ 1961 - 1965 tỷ trọng nguồn thu này trong tổng số thu ngân sách Nhà nước trong thời gian gian 1961 - 1965 là 29%, 1966 - 1970 là 60,6% và 1971- 1975 là 60,3%.
Sự cố gắng của nhân dân ta trong việc duy trì và phát triển kinh tế, trong việc động viên tài lực cho kháng chiến thật là to lớn, nhưng vẫn không vượt qua được sự hạn chế nghiệt ngã của chiến tranh, nên số thu trong nước dù tăng lên đáng kể, vẫn còn khoảng cách rất xa so với yêu cầu. Cân đối ngân sách Nhà nước chủ yếu dựa vào viện trợ và vay nợ là nét đặc thù của tài chính nước ta trong chiến tranh. Đặc điểm này vừa phản ánh tính tất yếu lịch sử, vừa là một yếu tố có thể dẫn đến sự mất cân đối nghiêm trọng trong chiến tranh, khi nguồn viện trợ đặc biệt cho chiến tranh không còn nữa mà nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân chưa có cơ sở tăng lên kịp đề bù đắp.
Về chi ngân sách, tốc độ tăng nhanh hơn tăng thu: so với 5 năm 1961 - 1965, số chi trong 5 năm 1966 - 1970 tăng gấp 2 lần, trong 5 năm tiếp theo gấp 2,8 lần. Do đó, ngân sách lâm vào tình trạng bội chi liên tục, càng về những năm cuối chiến tranh, mức bội chi càng cao. Trong thời gian 1961 - 1965, bội chi 1,29%, chủ yếu tập trung vào năm 1965, năm bắt đầu có chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên miền Bắc, từ năm 1966 đến năm 1975 bội chi 1,93%, riêng trong các năm 1971 - 1975 lên tới 3,26%.
Trong việc phân phối, sử dụng nguồn thu, trên nguyên tắc bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chính trị cơ bản được đặt ra cho cả thời kỳ, Nhà nước đã cố gắng bố trí các khoản chi theo tinh thần tiết kiệm, sắp xếp cơ cấu chi ngân sách sao cho hợp lý, giới hạn ở mức tối thiểu cần thiết. Chẳng hạn như trong xây dựng cơ bản, Nhà nước điều chỉnh quan hệ đầu tư cho các ngành để tăng chi cho các lĩnh vực trọng điểm như nông nghiệp, giao thông vận tải trong phạm vi tổng mức đầu tư chỉ có thể bố trí vào khoảng l/3 tổng số chi ngân sách (trong kế hoạch 5 năm 1961 - 1965 là 50%). Song do nhu cầu thực tế về tài chính thời kỳ này quá lớn, có nhiều biến động, nên chi ngân sách vẫn vượt quá khả năng thu hàng năm, phải dùng vốn phát hành để bù đắp.
Bội chi là điều khó tránh khỏi, do hoàn cảnh có chiến tranh, nhưng việc tăng chi và tăng bội chi có phần bắt nguồn từ một số sai lệch trong quản lý, phân phối, sử dụng ngân sách Nhà nước.
Trước những yêu cầu bức bách của sản xuất và chiến đấu, nhiều khi đã chi dùng tiền của thiếu tính toán, có tư tưởng làm được việc bằng bất cứ giá nào, từ đó phát sinh tình hình buông lỏng, tùy tiện, thiếu trách nhiệm, gây mất mát, lãng phí lớn. Mặt khác, với nguồn viện trợ không hoàn lại rất to lớn, ta đã có những mặt sử dụng không chặt chẽ, không hợp lý, như trong việc nhập thiết bị vật tư, kỹ thuật, nhiều trường hợp nhập quá số lượng cần thiết, nhập cả những loại không thích hợp hay đã lạc hậu hoặc chưa có điều kiện sử dụng trong việc phân phối vật tư, thiết bị cho sản xuất và chiến đấu thì lại tính với giá thấp, khiến cho người sử dụng cố tranh thủ nhận được càng nhiều càng tốt, sử dụng tùy tiện, lãng phí, ít quan tâm đến tiết kiệm và hiệu quả, làm triệt tiêu hiệu lực của những cố gắng tăng cường chế độ hạch toán kinh tế trong quá trình cải tiến quản lý.
Nhìn chung lại, trong thời kỳ 1966 - 1975, tài chính đã bám sát nhiệm vụ chính trị của Đảng đề ra, cố gắng tăng nguồn thu để bảo đảm nhu cầu chi to lớn, khẩn trương trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, phức tạp của sự nghiệp chống ngoại xâm đi đôi với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nên đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của cả nước.
Trải qua thử thách, nền tài chính đã trưởng thành thêm một bước trọng. Đây là thời kỳ có nhiều bổ sung, cải tiến về chính sách và cơ chế quản lý vừa đáp ứng nhu cầu của chiến tranh, vừa phù hợp với nhiệm vụ tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.
Với hệ thống đã xây dựng hoàn chỉnh trong thời gian kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) bao gồm đủ năm khâu (ngân sách Nhà nước, tài chính xí nghiệp, tín dụng, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm Nhà nước), tài chính nước ta trong thời kỳ 1966 - 1975 đã mở rộng quy mô hoạt động, nâng cao tầm vóc của ngân sách Nhà nước, kể cả ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, phát triển đáng kể các nghiệp vụ bảo hiểm, tăng cường công tác tín dụng trong sự kết hợp, phối hợp chặt chẽ với ngân sách Nhà nước; đặc biệt là đã cải tiến quản lý theo hướng nâng cao trình độ hạch toán kinh tế, nhằm mục tiêu tiết kiệm và hiệu quả cao trong việc sử dụng nguồn vốn của Nhà nước, của các cơ sở kinh tế quốc doanh cũng như tập thể, trung ương cũng như địa phương.

 

Nhưng mặt khác, chịu sự tác động sâu sắc của chiến tranh, nền tài chính phải gánh chịu những hậu quả nặng nề để lại cho thời kỳ sau. Đó là tình trạng bội chi ngân sách; là sự buông lỏng quản lý mà những cố gắng đấu tranh để giữ nề nếp, kỷ cương trong quá trình chiến tranh chỉ có tác dụng hạn chế, chứ không khắc phục được triệt để; là sự hẫng hụt lớn về nguồn thu khi mà viện trợ đặc biệt trong chiến tranh không còn; là chế độ bao cấp vốn đã có mầm mống từ trước, lại được nuôi dưỡng bằng chế độ chi tiêu đặc biệt cho các nhu cầu của chiến tranh, nhiều khi mang tính chất vô điều kiện, bảo đảm được việc bằng mọi giá để đánh thắng kẻ thù, làm cho tư tưởng bao cấp, tính ỷ lại và thiếu trách nhiệm ăn sâu, bám rễ vào các ngành, các cấp.


Số lượt người xem: 3935 Bản inQuay lại

TIN MỚI HƠN

TIN ĐÃ ĐƯA

Xem tiếp
Xem theo ngày Xem theo ngày