SỐ LƯỢT TRUY CẬP

3
6
4
6
8
7
5
Lịch sử ngành Tài chính Thứ Bảy, 11/09/2010, 07:30

Giai đoạn 1991- 2000

 

 
Tài chính Việt Nam 10 năm đổi mới
...Tài chính là tổng hoà các mối quan hệ kinh tế trong xã hội, là tổng thể các nội dung và giải pháp tài chính, tiền tệ, không chỉ có nhiệm vụ nuôi dưỡng, phát triển, khai thác các nguồn lực, mà còn có nhiệm vụ tổ chức dòng chảy thông thoáng, quản lý và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực phục vụ các nhiệm vụ chính trị trong mỗi giai đoạn cách mạng của đất nước, vì một nước Việt Nam độc lập, tự do, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
...Trong giai đoạn mới của cách mạng, vượt qua những lúng túng ban đầu, Tài chính đã tiến hành đổi mới, tham gia tích cực vào quá trình cải cách kinh tế, thiết lập nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Với đường lối đổi mới đúng đắn, với bản lĩnh chính trị của đội tiên phong từng tri và dày dạn kinh nghiệm, hết lòng vì nước, vì dân, Đảng cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo sự nghiệp đổi mới vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, giành được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nhờ đổi mới, đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, cải thiện đáng kể đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, giữ vững định hướng XHCN. Mối quan hệ có tính nguyên tắc giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội luôn được quan tâm giải quyết thoả đáng. Đảng ta luôn coi trọng đồng thời cả hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cùng với đổi mới về kinh tế - xã hội, Việt Nam cũng đã thực hiện có kết quả những đổi mới quan trọng về hệ thống chính trị, nâng cao hiệu lực và hiệu quả của bộ máy quản lý Nhà nước, phát triển mạnh mẽ mối quan hệ đối ngoại, phá thế bị bao vây, cấm vận; tham gia tích cực vào đời sống cộng đồng quốc tế. Con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng được xác định rõ ràng hơn. Thế và lực của đất nước đã được tăng cường.
Với tư cách là công cụ quản lý vĩ mô, là nguồn máu của cơ thể sống, là nguồn lực, bằng chính sách và cơ chế vận hành phù hợp, Tài chính đã góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, huy động và tập trung tối đa nguồn lực, kiểm soát bội chi NSNN, ổn định và lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia, giải quyết tốt những vấn đề bức xúc về xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng, nâng cao tích luỹ nội bộ nền kinh tế, tạo điều kiện vững chắc cho những bước phát triển cao hơn trong thế kỷ XXI.
Trong 10 năm đổi mới và mở cửa, nền tài chính quốc gia của Việt Nam đã được xây dựng và phát triển. Hệ thống tài chính của cơ chế kinh tế mới, kinh tế thị trường, mở cửa đã được tạo dựng. Tài chính đã từng bước làm tốt vai trò động viên, phân phối nguồn lực, quản lý, kiểm soát và giám sát vĩ mô nền kinh tế quốc dân.
Có thể đánh giá những công việc đã làm, những thành tựu đã đạt được của toàn ngành Tài chính qua 10 năm đổi mới trên các mặt sau:
Trước hết, cùng với sự đổi mới tư duy quản lý kinh tế, những nhận thức mới về hoạt động tài chính trong quá trình cải cách kinh tế và xây dựng kinh tế thị trường ở Việt Nam đã được hình thành.
Mạnh dạn dứt bỏ tư duy về một nền tài chính của kinh tế kế hoạch hoá tập trung, chúng ta đã đổi mới nếp nghĩ, cách làm. Hình thành mới quan điểm về động viên và phân phối nguồn lực, đảm bảo thúc đẩy kinh tế phát triển, giải quyết hài hoà quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội. Từ bỏ phương thức quản lý nền tài chính bằng biện pháp hành chính, bằng mệnh lệnh chuyển sang quản lý và điều hành tài chính, tiền tệ bằng luật pháp, bằng biện pháp kinh tế, bằng công cụ và đòn bẩy kinh tế. Quyền tự chủ kinh doanh, tự chủ về tài chính của các đn vị kinh tế cơ sở, các cấp ngân sách, các đơn vị thụ hưởng ngân quỹ đã được xác lập và tăng cường, tạo điều kiện phát huy tối đa tính độc lập, khả năng sáng tạo và tự chịu trách nhiệm của đơn vị. Ngành tài chính chăm lo phát huy sức mạnh nguồn lực trong nước, giảm dần sự phụ thuộc vào nước ngoài. Tranh thủ tối đa nguồn lực nước ngoài cho đầu tư phát triển, trên nguyên tắc giữ vững độc lập, tự chủ về chính trị, mở rộng quan hệ về hợp tác kinh tế với tất cả các nước. Trong quản lý chi NSNN và sử dụng nguồn lực, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt là giảm dần sự bao cấp của Nhà nước, trước hết là chế độ bao cấp đối với các doanh nghiệp, các hoạt động s nghiệp công cộng. Mở rộng phạm vi, lĩnh vực công việc để Nhà nước và nhân dân cùng làm. Chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, đào tạo, y tế, thể dục thể thao, văn hóa và nhiều hoạt động mang tính xã hội khác... đã khơi dậy và cuốn hút nhiều nguồn lực, tài trí trong dân, trong xã hội, trong nước và cả ở nước ngoài. Với cách làm và tư duy ấy, phạm vi bao cấp từ NSNN đã dần được thu hẹp và xóa bỏ, phạm vi trang trải của NSNN đang được xác lập, phù hợp hơn. Nhà nước có điều kiện tập trung các nguồn lực còn hạn hẹp cho những mục tiêu chiến lược và nhiệm vụ trọng tâm của phát triển kinh tế- xã hội, bảo vệ Tổ quốc.
Quan điểm về tiết kiệm, sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính đã được đổi mới cả trong tư duy và cách làm, cách thức huy động vốn cho đầu tư phát triển, cách thức cấp phát theo dự án, khoán chi, kiểm soát chi, biện pháp bù đắp bội chi NSNN. Ngay từ đầu năm 1992, chúng ta chấm dứt phát hành tiền để bù đắp bội chi NSNN, chấm dứt vay nợ cho chi thường xuyên.
Điều cực kỳ quan trọng là chức năng tài chính trong kinh tế thị trường đã được nhận thức rõ hơn, mới hơn, không chỉ đơn thuần phân phối và giám sát các nguồn lực, mà còn phi tổ chức lưu chuyển thông thoáng, có chủ định các nguồn lực trong toàn bộ nền tài chính quốc gia, gồm cả tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp và tài chính dân cư, trong một nền kinh tế nhiều thành phần, đa sở hữu cùng vận hành, trong đó kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo.
Thứ hai, bằng những chủ trương, chính sách đúng đắn, bằng sự nỗ lực của toàn ngành Tài chính, chúng ta đã động viên hợp lý sức người, sức của trong cả nước, thu hút có chủ định các nguồn vốn từ nước ngoài để phát triển kinh tế, xây dựng nước Việt Nam XHCN giàu, mạnh, xã hội công bằng văn minh.
Thu, chi NSNN tăng đều qua các năm. So với năm trước, thu NSNN năm 1996 tăng 16,9%; năm 1997 tăng 4,8%; năm 1998 tăng 8%; năm 1999 tăng 8%. Tổng mức đầu tư toàn xã hội đã đạt trên 100 nghìn tỷ đồng, bằng 27% GDP.
Thứ 3, vấn đề cốt lõi là thiết lập và hoàn thiện từng bước hệ thống pháp lý và hệ thống chính sách tài chính.
Nhận thức rõ sự cần thiết trong đổi mới phương thức quản lý tài chính, vai trò quản lý Nhà nước về tài chính trong nền kinh tế thị trường, Bộ Tài chính đã nghiên cứu xây dựng chính sách tài chính làm căn cứ chiến lược chỉ đạo và điều hành công tác tài chính. Các quy định pháp lý về chính sách tài khóa, và NSNN về thuế đã được ban hành. Luật NSNN có hiệu lực thi hành từ 1/1/1997 đã đảm bảo quản lý thống nhất NSNN, ngân quỹ quốc gia, quy định rõ ràng trách nhiệm, quyền hạn của các ngành, các cấp trong quy trình quản lý và điều hành NSNN, góp phần khơi dậy mọi tiềm năng, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý kinh tế.
Khuôn khổ pháp lý về thuế đã không ngừng được cải cách. Trong chương trình cải cách thuế bước 2, nhiều Luật thuế đã được ban hành mới hoặc bổ sung sửa đổi. Đặc biệt là sự ban hành mới Luật thuế GTGT và TNDN là bước tiến quan trọng trong quá trình hoàn thiện hệ thống thuế Việt Nam, góp phần thúc đẩy sản xuất và kinh doanh phát triển, đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước, công bằng xã hội và chuẩn bị điều kiện tiền đề cho Việt Nam hội nhập về kinh tế với các nước. Phải nói rằng, chính sách động viên của Nhà nước, chính sách cơ cấu lại nguồn thu, cơ cấu lại các khoản chi cho Ngân sách Nhà nước đã được đổi mới khá cơ bản. Tỷ lệ động viên trong nội bộ nền kinh tế đã hợp lý hơn, vừa đảm bảo cho thu NSNN, đm bo khuyến khích, thúc đẩy phát triển sn xuất kinh doanh, đm bo công bằng xã hội...; chi NSNN được cơ cấu lại với tư tưởng chỉ đạo xoá dần bao cấp, tập trung vốn và kinh phí cho nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm từng giai đoạn phát triển kinh tế, giữ vững an ninh quốc phòng. Chi NSNN cho đầu tư phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn được coi trọng hơn. Ưu tiên dành vốn cho các chương trình, các mục tiêu quốc gia, tăng chi cho văn hoá giáo dục, y tế và phát triển khoa học kỹ thuật. Nhờ có chính sách đúng về phân cấp NSNN, ổn định nhiệm vụ chi cho các địa phương đã tăng tính chủ động, sáng tạo của các cấp ngân sách trong việc khai thác nguồn thu và giải quyết nhiệm vụ chi trên địa bàn.
Quỹ NSNN được quản lý chặt chẽ hơn, lưu chuyển thông thoáng hơn, hiệu quả hơn.
Thứ 4, với nhận thức, kinh tế là gốc của tài chính, nền tài chính mạnh là nền tài chính được vận hành trong một nền kinh tế phát triển bền vững. Vì vậy, trong suốt mười năm đổi mới, tài chính Việt Nam luôn hướng về phục vụ, khuyến khích sản xuất, kinh doanh phát triển.
Tài chính, NSNN đã được cơ cấu lại, tập trung xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, giữ vững an ninh quốc phòng, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển. Từ nền kinh tế chỉ huy, từ NSNN bao cấp, chúng ta đã thành công trong trong việc xoá bỏ bao cấp, thực hiện hạch toán kinh tế, mở rộng quyền tự chủ kinh doanh, đa dạng hoá các hình thức sở hữu, sắp xếp lại DNNN, giải quyết hài hoà lợi ích kinh tế, lợi ích tài chính. Nhiều năm liền nền kinh tế tăng trưởng khá: sản lượng công nghiệp tăng bình quân trên 10%/năm, sản lượng lưng thực quy thóc đạt trên 34 triệu tấn. Nhiều DNNN đã trụ vững và làm ăn có lãi trong kinh tế thị trường. Nền kinh tế nhiều thành phần, bao gồm cả kinh tế Nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế liên doanh, liên kết, kinh tế hợp tác, kinh tế trang trại và kinh tế hộ gia đình ngày càng phát triển trước sự bình đẳng của luật pháp và sự công bằng của chính sách tài chính. Chúng ta đã chủ động trong lộ trình hội nhập, tham gia tích cực trong các quan hệ kinh tế tài chính song phương và đa phương. Việt Nam đã gia nhập AFTA, APEC, đã là thành viên thứ 7 của Liên đoàn kế toán các nước ASEAN (AFA), thành viên thứ 130 của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC). Bằng chính sách tài chính linh hoạt, thích hợp, tháo gỡ từng vướng mắc, chúng ta đã mở cửa thu hút khối lượng lớn vốn đầu tư từ nước ngoài và tăng kim ngạch xuất khẩu. Dù còn khiêm tốn, nhưng kinh tế Việt Nam đã bắt đầu mở cửa đi ra nước ngoài, tham gia và chiếm lĩnh thị trường ngoài nước.
Thứ 5, nhận thức rõ tiết kiệm là quốc sách, không chỉ chăm lo cho sản xuất phát triển, chăm lo động viên nguồn lực tài chính, mà còn coi trọng phân phối, sử dụng nguồn lực sao cho có hiệu quả, tiết kiệm.
Thi hành Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, ngành tài chính đã triển khai hàng loạt biện pháp tiết kiệm trong sản xuất, trong chi tiêu ngân sách nhà nước, quỹ công, trong tiêu dùng của dân cư. Hàng trăm tỷ đồng đã được tiết kiệm, giành ra để chi dùng cho những nhiệm vụ đột xuất, cho đầu tư, cho xoá đói, giảm nghèo... Tiết kiệm lớn nhất mà chúng ta đạt được không chỉ là cắt giảm chi tiêu, mà chính là có được sự tăng trưởng cao hơn, hiệu quả hơn trong sản xuất, kinh doanh và chi tiêu công quỹ.
Để thực hiện tiết kiệm có hiệu quả cần phi tăng cường kiểm tra, kiểm soát. Tài chính không chỉ là nguồn lực, là cơ chế, chính sách động viên, phân phối mà còn là công cụ hướng dẫn chi tiêu, kiểm tra, kiểm soát việc tập trung, phân phối, sử dụng nguồn lực sao cho có hiệu quả, đạt được nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của Đảng và Nhà nước. Chỉ riêng năm 1999, qua kiểm soát chi, ngành Kho bạc Nhà nước đã từ chối thanh toán hơn 38.000 món, với số tiền gần 200 tỷ đồng, huỷ bỏ hạn mức kinh phí, trả về cho ngân sách Nhà nước, năm 1997: 84 tỷ đồng, năm 1998: 64 tỷ đồng, năm 1996: 180 tỷ đồng.
Thứ 6, kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực, hiệu lực quản lý điều hành của ngành tài chính.
10 năm qua, hệ thống tổ chức bộ máy ngành tài chính đã không ngừng được, đổi mới, năng lực cán bộ ngành tài chính đã không ngừng được hoàn thiện, nâng cao, đáp ứng được các yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Cùng với việc kiện toàn bộ máy, chức năng tài chính và các tổ chức trong nội bộ ngành ngày càng được xác định rõ ràng, đầy đủ hơn. Công tác hoạch định chính sách tài chính đã được tách dần khỏi các đơn vị điều hành và quản lý tài chính. Hệ thống thuế đã được tổ chức lại theo chuyên ngành, thống nhất từ trung ương đến địa phương, phân chia rõ 3 bộ phận trong ngành thuế, đảm bảo hành thu và kiểm tra việc thu thuế. Thực hiện Nghị quyết trung ương VII, ngành tài chính đã sắp xếp, tổ chức lại hệ thống quản lý tài chính chuyên ngành, bao gồm cơ quan quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp và Tổng cục đầu tư phát triển, tiến hành một bước kiện toàn bộ máy của cơ quan thanh tra tài chính, bộ phận hợp tác quốc tế, hội nhập...
Nhằm nâng cao năng lực quản lý, điều hành nền tài chính quốc gia, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, ngành tài chính đã kiên trì thực hiện nguyên tắc tổ chức bộ máy quản lý tập trung, thống nhất, có sự phân công, phân cấp rành mạch giữa Trung ương và địa phương, khắc phục tình trạng quan liêu, phân tán và cắt khúc trong chỉ đạo và quản lý. Đồng thời, tăng cường quyền hạn và trách nhiệm cho cơ quan tài chính địa phương trên cơ sở đảm bảo sự quản lý thống nhất của Trung ương.
Đội ngũ cán bộ tài chính ngày càng được tăng cường cả về số lượng, chất lượng. Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, nghiệp vụ chuyên môn và năng lực quản lý cho cán bộ, công chức đã được quan tâm đúng mức. Từng bước hiện đại hoá công nghệ quản lý. Đội ngũ cán bộ, công chức tài chính đã trưởng thành nhanh, đáp ứng tốt yêu cầu ngày càng cao của công việc. Cán bộ, công chức có trình độ đại học trở lên chiếm 32,87% công chức toàn ngành. Cán bộ tài chính chăm chỉ học tập, chịu khó nghiên cứu, làm chủ kiến thức quản lý hiện đại, nắm vững kỹ thuật tin học, thông thạo ngoại ngữ, tự tin hơn, làm chủ hơn, vững vàng hơn trước những biến động của thời cuộc. Phần đông cán bộ tài chính chăm lo rèn luyện đạo đức, tác phong, giữ vững phẩm chất, liêm khiết, gưng mẫu. Phẩm chất cán bộ tài chính thể hiện rõ qua sự tận tuỵ, không kể ngày đêm, bám sát nguồn thu, trăn trở cùng đối tượng thu, đơn vị thụ hưởng sao cho thu đúng, thu đủ, chi kịp thời, đúng mục đích, có hiệu quả. Mỗi năm, cán bộ ngân quỹ Kho bạc Nhà nước đã trả lại cho khách hàng hơn 200 món tiền thừa với giá trị hàng chục tỷ đồng. Nhiều cán bộ thuế bám sát địa bàn, năng động tích cực, lăn lộn ngày đêm truy thu, tăng thu hàng trăm tỷ đồng tiền thuế cho Nhà nước, vững vàng đối mặt với hàng nghìn thủ đoạn trốn lậu thuế, mua chuộc và doạ nạt. Nhiều sáng kiến, cải tiến đã nảy nở trong công tác tài chính. Hàng trăm đơn vị, hàng nghìn cá nhân trong ngành đã được nhận các phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội.
Tóm lại, trong 55 năm qua và đặc biệt là trong 10 năm đổi mới, hoà chung với phong trào cách mạng và thi đua yêu nước của cả nước, ngành tài chính đã khắc phục mọi khó khăn, hoàn thành thắng lợi và xuất sắc các nhiệm vụ chính trị. Yêu cầu của cách mạng đòi hỏi ngành tài chính phải phát huy ý chí cách mạng, nỗ lực phấn đấu nhiều hơn nữa cả trong đổi mới tư duy, nếp nghĩ, cách làm, tất cả vì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Từ thực tế những gì đã làm, đã làm được, từ những thành tựu của 55 năm qua và đặc biệt là của 10 năm đổi mới, và cả từ những việc làm chưa tốt, chưa thành công, chúng ta có thể rút ra 5 bài học:
Bài học thứ nhất: Phải thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng, về độc lập dân tộc và CNXH, bám sát và kiên trì chủ trương của Đảng, của Nhà nước về đổi mới quản lý kinh tế, tài chính.
Thực tế đã chỉ rõ chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước là thiết lập và vận hành ở Việt Nam nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, có sự quản lý và kiểm soát của Nhà nước. Bám sát chủ trương này, mọi chính sách tài chính, mọi việc làm của ngành tài chính đã và sẽ phục vụ tốt nhất cho chính sách kinh tế nhiều thành phần trong tiến trình đổi mới, huy động tốt nhất mọi tiềm năng trong cả nước. Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho huy động nguồn lực từ bên ngoài mang lại cho nền kinh tế nước ta sự phát triển, năng động mới.
Mọi giải pháp tài chính và công việc của người làm tài chính phải hàm chứa và tính đến các yếu tố chính trị, kinh tế và xã hội, phải xuất phát từ cuộc sống và phải giải quyết cho được những vấn đề của cuộc sống đặt ra. Đời sống kinh tế - xã hội rất phong phú, đa dạng và luôn vận động, phát triển, đòi hỏi công tác tài chính phải bám sát thực tế, mọi giải pháp tài chính cần được thực tế kiểm nghiệm và đánh giá. 10 năm đổi mới đã cho chúng ta bài học là cần nhanh nhạy, linh hoạt triển khai và điều chỉnh các chủ trương, giải pháp tài chính, cần cân nhắc, tính toán mọi yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội trong từng giải pháp, từng quyết sách. Hoạch định chính sách tài chính quốc gia là một nghệ thuật. Mọi sơ suất, sai lầm, chậm trễ trong từng quyết sách sẽ gây hậu quả xấu không chỉ về kinh tế - tài chính, mà có thể cả chính trị - xã hội.
Bài học thứ hai: Cần tạo dựng chiến lược tài chính quốc gia với những mục tiêu, định hướng rõ ràng, với những giải pháp tài chính mang tính tổng thể, liên hoàn, đồng bộ.
Chiến lược tổng thể của Đảng ta là đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Chiến lược tài chính quốc gia phải phục vụ chiến lược tổng thể đó. Phải có những chiến lược cụ thể trong chiến lược tổng thể. Vấn đề quan trọng cho thành công là nhận thức rõ tính đồng bộ, độ trễ của chính sách để có sự kết hợp hài hoà, nhuần nhuyễn, có hiệu quả giữa định hướng, giải pháp và chính sách tài chính dài hạn, mang tính chiến lược với giải pháp tài chính tác nghiệp, phục vụ những yêu cầu, nhiệm vụ bức xúc, trước mắt mang tính tình thế. Trong mọi hoàn cảnh phải kiên trì chiến lược tài chính, thiết lập cho được hệ thống tài chính tiền tệ, các loại thị trường và đặc biệt là thị trường vốn năng động, an toàn, hiệu quả, với hệ công cụ tài chính hoàn chỉnh phù hợp từng giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước. Giải pháp tài chính tình thế phải nằm trong chiến lược tổng thể và phải phục vụ cho mục tiêu chiến lược của tài chính quốc gia. Tuyệt đối không vì những chính sách tài chính cụ thể trong động viên thu nhập, trong chi tiêu ngân sách, trong tài chính doanh nghiệp... làm phá vỡ cơ cấu, định hướng, chiến lược tài chính hoặc làm chậm tiến trình đổi mới nền tài chính quốc gia. Tất nhiên, phải thấy rằng, diễn biến trong thực tế của nền kinh tế là vô cùng phức tạp, nhiều biến động khó lường. Nền tài chính Việt Nam đứng trước nhiều thách thức trong quá trình phát triển. Do đó, phải luôn chủ động trong vị thế mới, lựa chọn những mục tiêu cụ thể cho phép khai thác tốt nhất mọi lợi thế so sánh của đất nước. Tài chính luôn sắn sàng ứng phó tốt mọi diễn biến, mọi đòi hỏi của nền kinh tế. Có lúc cần tập trung vốn cho công nghiệp hoá và hiện đại hoá, có lúc cần dồn sức, dồn của cho phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, cho xoá đói giảm nghèo, cho giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội. Mục tiêu lâu dài của chính sách thuế là động viên hợp lý, đảm bảo công bằng xã hội, đảm bảo cho nông dân Việt Nam được dùng hàng rẻ, hàng tốt. Nhưng trước mắt, có lúc phải chấp nhận nhiều sắc thuế, nhiều thuế suất, chấp nhận sự bảo hộ sản xuất trong nước còn nhiều, còn tình trạng bao cấp trong chi NSNN. Nhưng, đó là những giải pháp cần thiết trong quá trình phát triển kinh tế và hoàn thiện hệ thống tài chính của Việt Nam. Vấn đề đặt ra là, cần chủ động, tỉnh táo, có bước đi và cách làm cho từng mục tiêu chiến lược, sách lược, cho từng nhóm giải pháp tài chính.
Bài học thứ ba: Tôn trọng và tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tài chính, coi trọng sự phối hợp đồng bộ các công cụ chính sách kinh tế tài chính.
Luôn duy trì và đảm bảo tính thống nhất, kỉ cương, kỉ luật trong chỉ huy, điều hành nền tài chính quốc gia. Phê phán và lên án mạnh tư tưởng, việc làm vô kỉ luật, chấp hành thiếu nghiêm chỉnh các qui định về thu, chi, điều tiết ngân sách Nhà nước trong quản lý và sử dụng ngân quỹ. Chống tư tưởng, việc làm cục bộ, vì quyền lợi ngành, địa phương, gây tổn hại lợi ích chung, đặc biệt trong việc chấp hành chế độ chính sách và kỉ luật tài chính. Tuy nhiên, cũng cần mạnh dạn phân cấp, trao quyền và phát huy cao nhất tính tự chủ, sáng tạo của cac ngành địa phương, đặc biệt trong khai thác các nguồn thu và tự đảm bảo nhiệm vụ chi. Tạo dựng cơ chế, kỉ luật phối hợp hài hoà giữa các nội dung hoạt động, giữa các mảng công tác tài chính, tạo nên một sức mạnh tổng thể, hỗ trợ, kích thích và làm tiền đề cho nhau cùng đạt hiệu quả. Kinh nghiệm cho thấy, mọi sự rời rạc, chia cắt... trong giải pháp, trong chính sách tài chính, trong điều hành công việc đều không đem lại kết quả và có thể dẫn đến những hậu quả khó lường. Cần xử lý tốt mối quan hệ giữa thu và chi NSNN, giữa động viên thu nhập, huy động nguồn lực và thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển, nuôi dưỡng nguồn thu; giữa bảo hộ sản xuất trong nước và yêu cầu nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp; giữa tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp và tài chính dân cư; giữa các tổ chức tài chính, các trung gian tài chính với các công cụ tài chính trong một thị trường mở; giữa yêu cầu tăng trưởng kinh tế với thực hiện các chính sách xã hội, với bảo vệ môi trường; giữa tài chính với tiền tệ, tài chính với giá cả..
Bài học thứ tư: Thiết lập, vận hành và nâng cao hiệu lực kiểm tra, kiểm soát và giám sát tài chính đối với toàn bộ nền kinh tế xã hội.
Một trong những yêu cầu của tài chính trong nền kinh tế mở là an ninh, an toàn và lành mạnh. Nguy cơ của những tiêu cực, những đổ vỡ về tài chính trong nền kinh tế thị trường luôn luôn tồn tại bên cạnh những thời cơ và tính năng động của nền tài chính quốc gia.
Cùng với việc thiết lập các khuôn khổ pháp lý cho hoạt động tài chính, cần tăng cường hiệu lực, hiệu quả của hệ thống giám sát bằng nghiệp vụ, bằng tổ chức có sẵn trong bản thân công tác tài chính, bản thân từng quy trình chuyên môn. Thường xuyên rà soát, thiết lập mới các quy trình, các cơ cấu tổ chức có tính kháng thể cao với các hành vi, việc làm gây tổn hại tài chính Nhà nước. Tăng cường và nâng cao tính hiệu lực của hệ thống giám sát nội bộ, bộ máy và quy trình kiểm soát nội bộ; đảm bảo mọi hoạt động tài chính, sự luân chuyển của từng dòng tiền của nhà nước, của ngân khố phải được giám sát thường xuyên, liên tục. Hoạt động tài chính, tiền tệ của các tổ chức, các quỹ tài chính Nhà nước, các trung gian tài chính phải được giám sát từ xa, phải có hệ thống cảnh báo. Các hệ thống thanh tra, kiểm tra từ bên ngoài, từ trên xuống cần tăng cường có sự sắp xếp hợp lý, coi trọng thực chất hơn là hình thức. Thanh tra, kiểm tra có trọng điểm, có chủ định, xử lý dứt điểm mọi sai phạm do thanh tra phát hiện, giữ nghiêm kỉ cương phép nước.
Công khai tài chính là biện pháp hạn chế tiêu cực, là việc làm thể hiện bản lĩnh của các cơ quan, các tổ chức và cũng là tiền đề cho hoạt động của thị trường tài chính mở. Công khai tài chính một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện dân chủ từ cơ sở, dân chủ trực tiếp theo phương châm: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, đảm bảo nhà nước pháp quyền Việt nam thực sự là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Hệ thống kiểm toán bao gồm: Kiểm toán nhà nước, Kiểm toán độc lập, Kiểm toán nội bộ đã được thiết lập và hoạt đông có hiệu quả, góp phần nâng cao độ tin cậy của thông tin tài chính cần tạo dựng thói quen công khai tài chính trong đời sống xã hội, coi đó vừa là nghĩa vụ và là quyền lợi của cả người cung cấp thông tin và sử dụng thông tin, đồng thời có định hướng đúng cho phát triển Kiểm toán nhà nước, tạo môi trường pháp lý tốt hơn, chặt chẽ hơn cho thị trường dịch vụ kiểm toán, nâng cao trách nhiệm và độ tin cậy đối với những thông tin tài chính đã được kiểm toán
Bài học thứ năm: Phát huy sức mạnh toàn ngành, tranh thủ và sử dụng có hiệu quả trí tuệ và sự ủng hộ của mọi tầng lớp dân cư, mọi tổ chức chính trị, xã hội.
Cùng với việc chăm lo hoàn thiện và nâng cao năng lực bộ máy tổ chức ngành tài chính, cần phân cấp, phân quyền và nâng cao trách nhiệm cho các cấp trong công tác chuyên môn, quản lý cán bộ. Có chiến lược dài hạn và biện pháp chăm lo nâng cao năng lực nghiệp vụ, năng lực điều hành của đội ngũ cán bộ tài chính phù hợp yêu cầu của cơ chế kinh tế mới. Tăng cường tính kỷ cương, kỷ luật trong công tác tài chính. Cần thực sự dân chủ phát huy tối đa tính tự giác, tính chủ động sáng tạo của viên chức tài chính. Thấm nhuần lời dạy của Bác: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Đó là phương châm cực kỳ quan trọng cho sự thành công của nền tài chính quốc gia. Biết tin vào cán bộ, biết động viên khơi dậy tính tích cực, tính năng động của cán bộ tài chính, đặc biệt là đội ngũ cán bộ trẻ, sự nghiệp tài chính chắc chắn sẽ thành công. Hoạt động tài chính rất nhạy cảm. Mọi chủ trương, chính sách, giải pháp tài chính tiền tệ, mọi sự biến động tài chính có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp, và lập tức phản hồi với mức độ khác nhau, có khi trái ngược từ các tầng lớp dân cư. Vì vậy, sự thành công của công tác tài chính phụ thuộc khá lớn vào sự đồng lòng, đồng sức của dân. Một mặt, phải tuân thủ sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, tranh thủ tối đa trí tuệ của các ngành, các cấp, các chuyên gia, các nhà chính trị, nhà kinh tế, nhà khoa học trong việc lựa chọn các giải pháp tài chính, trong việc đưa chủ trương, chính sách tài chính vào cuộc sống. Mặt khác, phải tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn, tranh thủ sự đồng tình của dân, những người đóng góp nguồn lực cho nhà nước, những người đem tài năng, trí tuệ và tiền vốn cho phát triển kinh tế và thực hiện các nhiệm vụ chính trị xã hội. Thực tế đã chỉ ra rằng, khi có chính sách tài chính tương đối hợp lý, dân đồng lòng, thì nhiệm vụ động viên cho ngân sách nhà nước sẽ đảm bảo, các sắc thuế được đón nhận, vốn nhàn rỗi trong dân cư được huy động cho nhiệm vụ chính trị, kinh tế của đất nước. Người dân Việt Nam đã và sẽ vui vẻ cam chịu, chia xẻ gánh nặng với nhà nước trong các nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, văn hoá, giáo dục, y tế... và chính sách xã hội; động viên cùng tiết kiệm, chắt chiu, gom góp, xẻ chia khó khăn hôm nay để lo cho ngày mai của đất nước. Hãy ghi nhớ rằng, mọi thành công, mọi kết quả đạt được, mọi bước trưởng thành của ngành tài chính là công sức của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó có sự đóng góp của gần 55 nghìn công chức tài chính.
Có thể kết luận, thành tựu lớn nhất của 10 năm đổi mới hoạt động tài chính là sự đúng hướng, là sự góp phần đáng kể vào sự ổn định chính trị, kinh tế, xã hội, từng bước tạo lập hệ thống tài chính phù hợp yêu cầu tính chất của kinh tế thị trường ở Việt Nam; động viên tốt nguồn lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế, bảo vệ Tổ quốc, sẵn sàng mở của hội nhập với các nước.
Có thể khẳng định, ý chí, khả năng và nghị lực sáng tạo rất đáng tự hào của tập thể cán bộ, công chức ngành tài chính đã chứng minh qua những thành tựu thay đổi hẳn thế và lực của ngành sau 10 năm đổi mới. Cả nước đang phấn đấu hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2000, chuẩn bị bước vào thiên niên kỷ mới, thiên niên kỉ của khoa học thông tin, của kinh tế trí thức, của những diễn biến nhanh, nhiều khi vượt suy nghĩ của chúng ta. Luôn luôn nhậy bén với những diễn biến, làm chủ mọi tình huống, đề xướng và lựa chọn cho được những giải pháp trong mọi tình hình. Tài chính đã và sẽ mãi là khâu trung tâm, là huyết mạch của nền kinh tế và gắn kết nền kinh tế trong nước với thế giới bên ngoài. Cần tiếp tục tiến hành cải cách tài chính đồng bộ với cải cách kinh tế. Chính sách và giải pháp tài chính phải quán triệt tư tưởng dựa vào nội lực, giải phóng nội lực, khai thác và phát huy nội lực. Mọi nguồn lực bên ngoài phải được nội lực hoá và góp phần tăng nội lực. Mục tiêu chiến lược của tài chính là tăng trưởng và phát triển bền vững nền kinh tế, thông qua chức năng của tài chính trong cơ chế kinh tế thị trường, trong một thị trường tài chính mở, năng động với sự vận hành của các tổ chức tài chính, trung gian tài chính và công cụ tài chính. Tài chính phải tiếp tục phục vụ cho chiến lược công nghiệp hoá và hiện đại hoá, mà trong đó tâp trung vào ưu tiên cho phát triển nhân lực, chăm lo bồi dưỡng, thu hút và sử dụng nhân tài. Khoa học và công nghệ trong thế kỷ XXI sẽ có những đột biến, nhẩy vọt và toàn cầu hoá. Nhân lực, nhân tài của một quốc gia sẽ là lực lượng tiếp cận, lĩnh hội và vật dẫn của trí tuệ, trí thức khoa học, kỹ thuật cho công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
Với mục tiêu tổng quát duy trì môi trường tài chính vĩ mô ổn định, chủ động, an toàn; thiết lập cơ chế và hệ thống tài chính quốc gia trong một nền kinh tế mở, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vừa có khả năng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, vừa góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, các vấn đề bức xúc của đất nước vì một nước Việt Nam giầu mạnh, xã hội công bằng văn minh. Thực tế trong nước và thế giới đã đặt ra cho ngành tài chính nhiều thời c thuận lợi và cũng không ít thách thức; đòi hỏi ngành tài chính phải cùng cả nước kiên trì, dũng cảm tiếp tục đổi mới; giữ vững kỉ cương kỷ luật, năng động, tỉnh táo, sáng suốt, hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ chính trị trong thời kỳ cách mạng mới.
Vui mừng trước những thành tựu và kết quả của 10 năm đổi mới; nhận thức rõ nhiệm vụ chính trị trong thời gian tới, tập thể 55 nghìn công chức ngành tài chính quyết dấy lên một phong trào thi đua yêu nước chào mừng kỷ niệm 55 năm thành lập nước, thành lập ngành, lập thành tích chào mừng đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX và vững vàng bước vào thế kỷ XXI./.

 

(Báo cáo tại Đại hội điển hình tiên tiến toàn ngành Tài chính 28/8/2000)


Số lượt người xem: 2836 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày